Thứ Hai, 8 tháng 2, 2016

Tôi là người hạnh phúc nhất !

Lời Chúa: Mt 6, 25- 34:
25 Khi ấy, Chúa Giê-su nói với các môn đệ rằng : “Thầy bảo cho anh em biết : đừng lo cho mạng sống : lấy gì mà ăn ; cũng đừng lo cho thân thể : lấy gì mà mặc. Mạng sống chẳng trọng hơn của ăn, và thân thể chẳng trọng hơn áo mặc sao ? 26 Hãy xem chim trời : chúng không gieo, không gặt, không thu tích vào kho ; thế mà Cha anh em trên trời vẫn nuôi chúng. Anh em lại chẳng quý giá hơn chúng sao ? 27 Hỏi có ai trong anh em, nhờ lo lắng, mà kéo dài đời mình thêm được dù chỉ một gang tay?
28 Còn về áo mặc cũng thế, lo lắng làm gì ? Hãy ngắm xem hoa huệ ngoài đồng mọc lên thế nào mà rút ra bài học : chúng không làm lụng, không kéo sợi ; 29 thế mà, Thầy bảo cho anh em biết : ngay cả vua Sa-lô-môn, dù vinh hoa tột bậc, cũng không mặc đẹp bằng một bông hoa ấy. 30 Vậy nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã quẳng vào lò, mà Thiên Chúa còn mặc đẹp cho như thế, thì huống hồ là anh em, ôi những kẻ kém tin !
31 Vì thế, anh em đừng lo lắng tự hỏi : ta sẽ ăn gì, uống gì, hay mặc gì đây ? 32 Tất cả những thứ đó, dân ngoại vẫn tìm kiếm. Cha anh em trên trời thừa biết anh em cần tất cả những thứ đó. 33 Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. 34 Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai : ngày mai, cứ để ngày mai lo. Ngày nào có cái khổ của ngày ấy.

Kết quả hình ảnh cho cầu bình an cho năm mới


Một ông vua giàu có nọ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn, bởi vì tất cả tài sản mà ông có đều do sự miễn cưỡng đóng góp của thần dân. Ông tự so sánh mình với những người hành khất: người hành khất nhận được tiền của do lòng thương của người khác, còn ông, ông nhận được tiền do sự cưỡng bách.

Ngày nọ, ông vua giàu có đã quyết định làm một việc táo bạo: đó là cải trang thành người hành khất để cảm nghiệm được những đồng tiền bố thí... Thế là mỗi ngày Chúa Nhật, ông biến mình thành một người ăn xin lê lết trước cửa giáo đường. Ông cho tất cả những tiền ăn xin được vào một chiếc hộp nhỏ. Tuy không là bao so với cả kho tàng của ông, nhưng có lẽ nó vẫn có giá trị hơn... Ông tự nghĩ: bây giờ ta nới thực sự là người giàu có nhất trên đời, bởi vì tiền của ta nhận được là do lòng thương xót của con người, chứ không do một sự cưỡng bách nào.

Khi đã gom góp được một số tiền khá lớn sau những năm tháng ăn xin trước cửa các giáo đường, ông đã xin từ chức khỏi ngai vàng và đi đến một phương xa, nơi không ai có thể nhận ra ông. Ông mua một mảnh đất, và tự tay cất được một ngôi nhà tranh đơn sơ. Không mấy chốc, do sự hòa nhã, vui tươi của ông, mọi người trong lối xóm đều mến thương ông, nhất là các em bé. Ông kể chuyện cho chúng nghe, ông đem chúng đi câu cá, ông dạy chúng ca hát.

Trong đám trẻ nhỏ, có một cậu bé gia đình còn nghèo hơn cả ông nữa. Cậu bé chỉ có vỏn vẹn một con chim họa mi. Nghe tin ông đau nặng, cậu bé đã vội vàng mang con chim đến tặng ông, với hy vọng rằng con chim sẽ hót cho ông được khuây khỏa.

Đón nhận món quà, con người đã từng là vua của một nước mới thốt lên: "Từ trước đến nay, tất cả những gì tôi có, tôi đều lãnh nhận do lòng thương xót của người khác. Người ta cho tôi, nhưng không phải là cho tôi mà là cho một người hành khất. Giờ đây, với món quà tặng là con chim này, người ta tặng cho tôi với tất cả tấm lòng yêu thương... Chắc chắn, tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian".

Một thời gian sau đó, trong vùng, có một người tá điền nghèo bị người chủ đe dọa lấy nhà và trục xuất ra khỏi mảnh vườn đang canh tác. Nghĩ đến cảnh hai vợ chồng và 7 đứa con dại bị đuổi ra khỏi nhà, ông vua không thể nào ăn ngủ được... Cuối cùng, ông quyết định tặng chính mảnh vườn và ngôi nhà của mình cho gia đình người tá điền nghèo... Và một lần nữa, không một đồng xu dính túi, ông lên đường trẩy đi một nơi khác.

Bùi ngùi vì phải chia tay với những người quen biết trong vùng, nhưng ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng, bởi vì lần đầu tiên ông cảm nghiệm được niềm vui của sự ban tặng. Ông hiểu được rằng cho thì có phúc hơn là nhận lãnh... Lần này, ông thốt lên với tất cả xác tín: "Tôi là người hạnh phúc nhất trên trần gian này".

Câu chuyện của ông vua đi tìm hạnh phúc trên đây có thể gợi lên cho chúng ta về hình ảnh của chuyến đi cuộc đời của chúng ta... Người Kitô là một người lữ hành đi tìm hạnh phúc. Và hạnh phúc đích thực của chúng ta là gì nếu không phải là trao tặng, trao tặng cho đến lúc trống rỗng, nhưng bù lại, chúng ta được lấp đầy bằng chính Chúa.

(http://tonggiaophanhanoi.org/suy-niem/suy-niem-chua-nhat/4980-cac-bai-suy-niem-le-giao-thua-va-mong-mot-tet)

Thứ Bảy, 6 tháng 2, 2016

Xin tránh xa con!

Chúa Nhật Tuần V Mùa Thường Niên - Năm C
Lời Chúa: Lc 5,1-11

CHÚA NHẬT 5 THƯỜNG NIÊN C: XIN TRÁNH XA CON

Khi ấy, dân chúng chen nhau lại gần Ðức Giêsu để nghe lời Thiên Chúa, lúc đó Người đứng ở bờ hồ Giênêsarét. Người trông thấy hai chiếc thuyền đậu gần bờ; những người đánh cá đã ra khỏi thuyền và họ đang giặt lưới. Người xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simon, và Người xin ông đưa ra khỏi bờ một chút. Rồi Người ngồi trên thuyền, giảng dạy dân chúng. Vừa giảng xong, Người bảo ông Simon rằng: "Hãy đẩy thuyền ra chỗ nước sâu, và thả lưới bắt cá". Ông Simon thưa Người rằng: "Thưa Thầy, chúng con đã cực nhọc suốt đêm mà không được gì hết; nhưng vì lời Thầy, con sẽ thả lưới". Các ông đã thả lưới và bắt được rất nhiều cá; lưới các ông hầu như bị rách. Bấy giờ các ông làm hiệu cho các bạn đồng nghiệp ở thuyền bên cạnh đến giúp đỡ các ông. Những người này tới, họ đổ cá đầy hai chiếc thuyền, đến nỗi những thuyền chở nặng gần chìm.

Thấy thế, ông Simon sụp lạy dưới chân Chúa Giêsu và thưa Người rằng: "Lạy Chúa, xin Chúa hãy tránh xa con, vì con là người tội lỗi". Ông kinh ngạc và tất cả mọi người ở đó với ông cũng kinh ngạc trước mẻ cá mà các ông vừa mới bắt được; cả ông Giacôbê và Gioan, con ông Giêbêđê, bạn đồng nghiệp với ông Simon cũng thế. Nhưng Chúa Giêsu phán bảo ông Simon rằng: "Ðừng sợ hãi: từ đây con sẽ là kẻ chinh phục người ta". Bấy giờ các ông đưa thuyền vào bờ, và đã từ bỏ mọi sự mà đi theo Người.

             (Nguồn: Uỷ ban Thánh Kinh / HĐGMVN)

Chúa gọi bốn môn đệ đầu tiên, rồi sau này Người tuyển lựa nhóm mười hai và nhiều môn đồ khác nữa; tuy nhiên câu hỏi được đặt ra là: Người tuyển chọn dựa trên tiêu chuẩn nào? Thoạt tiên hình như Người chẳng theo tiêu chuẩn nào hết trọi! Trong việc này, Người tỏ ra hoàn toàn tự do: muốn gọi ai thì gọi. Sau này người ta giải thích rằng: mọi ơn gọi, kể cả ơn gọi Ki-tô hữu, đều là nhưng không, vô điều kiện. Tuy nhiên bài Tin Mừng hôm nay thoáng cho thấy: có một tiêu chuẩn hay điều kiện nào đó thì phải, và điều kiện này thì hết thảy mọi người được gọi ai cũng đều có được và phải có. Thú thực: khi phát hiện ra điều này, chính tôi còn cảm thấy giật mình.

Giật mình là phải, vì đã hơn 50 năm tu sĩ và 40 năm linh mục, tôi luôn được dạy và cũng luôn thâm tín rằng: mình phải sống xứng đáng với ơn gọi quí giá nhận được. Tôi đã chẳng ‘được tuyển chọn’ để trở thành tu sĩ hay linh mục qua một tiến trình đào luyện và sàng lọc hết sức căn kẽ là gì? Nhiều bạn bè tôi đã từng ‘bị loại’ hoặc rơi rụng…, và kết quả đương nhiên của thực tế này là tôi cảm tạ Chúa vì đã thương chọn tôi. Tôi thấy mình ‘cao trọng’ và ‘có phước’ hơn nhiều người: “Chúa chọn con như sét chọn ngọn cao đặc biệt”, có thời tôi đã từng hát như thế. Suốt thời gian tu luyện, tôi vẫn luôn cố gắng vươn tới một nếp sống sao cho xứng đáng với ân huệ nhận được. Nhưng rồi tôi phát hiện ra: lối suy nghĩ thông thường này không chỉnh cho lắm, không ổn tí nào!

Không nói ra, nhưng qua đoạn Tin Mừng Lu-ca hôm nay, Đức Giê-su đã hé mở cho thấy Người gọi Phê-rô, và cả ba môn đệ khác nữa, vì họ đã sấp mình xưng thú: “Lạy Ngài, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!” Đức Giê-su đã không hề nhắc nhở ông về các tội lỗi đã phạm, thế nhưng, chính mẻ cá lạ đã làm cho ông và các bạn nhận ra sự thấp hèn, tội lỗi của mình! Hình như có một nghịch lý: Phê-rô càng nhận thấy mình phải tránh xa Người bao nhiêu, thì Người lại càng muốn ông gần gũi mình bấy nhiêu, gần tới độ, sẽ cùng Người lên đường thu phục người ta. Sau này, khi phạm lỗi nặng nề vì ba lần chối bỏ Thầy, Phê-rô lại được cất nhắc lên ‘địa vị’ còn cao trọng hơn, ‘chăm sóc các cừu mẹ của Thầy’. Có lẽ chính Phê-rô đã nhận thức được điều này cách thâm sâu nhất: càng lỗi phạm nặng nề bao nhiêu…, thì Thầy lại càng xót thương mình bằng một tình yêu mãnh liệt bấy nhiêu: “Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21:17). Nên nhớ: lần tuyên xưng cuối cùng cũng lại sau một mẻ cá lạ; phải chăng là để gợi cho ông nhớ về lần xưng thú trước, lúc khởi đầu ơn gọi làm môn đệ.?

Như thế, một điều kiện đang dần hiện rõ đó là: mọi ơn gọi làm môn đệ Đức Giê-su Ki-tô (Ki-tô hữu giáo dân, hay tu sĩ linh mục, hay giám mục giáo hoàng, hay gì gì đi nữa…) thì cũng đều phải có một điều kiện xuyên suốt, từ khởi đầu và qua từng giai đoạn triển khai và mãi cho tới lúc hoàn thành…, đó là: xưng thú tội lỗi, là nhận ra sự bất xứng để khám phá ra lòng Chúa xót thương, đồng thời tiếp tục sống trong tình yêu thương vô hạn đó. Mất đi yếu tố căn bản này, người môn đệ rất có thể đã phản bội, hay ít nhất đã đánh lạc mất nền tảng của ơn gọi mình đó là: chính mình cần đón nhận ơn cứu độ. Luôn mãi, đặc biệt vào các cột mốc quan trọng nhất của một ơn gọi (chẳng hạn như 50 năm khấn dòng và 40 năm linh mục của tôi vào năm 2011), thay vì tâm tình cảm tạ Chúa vì đã được tuyển chọn, đã bền đỗ, đã vươn lên tiến bộ…, Ki-tô hữu chúng ta cần khai thác sâu hơn nhận thức tội lỗi và thấp hèn của mình. Nhận thức này do đó ngày càng phải trở thành nền tảng cho đời sống thiêng liêng của họ qua việc nhìn nhận không chút mạc cảm: ‘tôi đã lỗi phạm’. Và sự khiêm tốn nhìn nhận này sẽ trở thành bệ phóng tâm linh giúp họ bay bổng vào không gian vô tận của Lòng Chúa xót thương. Rồi cũng chính trong cái không gian vô tận đó, họ du hành một cuộc hành trình ‘thu phục người ta’ qua việc tông đồ và bác ái hoàn toàn vô điều kiện. Cuộc thu phục này không nhắm tới mục tiêu nào khác hơn: làm cho nhiều người minh định được điều căn bản: “Phận tôi tớ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới” (Lc 1:48).

Cao cả như Mẹ Maria, uy hùng như Phê-rô, mà cũng trọn đời không ngừng hướng tới mục tiêu cốt lõi duy nhất này, thế thì Ki-tô hữu hay linh mục chúng ta, bất luận là ai, ta sẽ không thể làm gì khác hơn được!

Lạy Chúa, có nhiều lúc con bị cám dỗ muốn đo lường sự tiến bộ đạo đức thánh thiện của mình; kết quả là tầm nhìn lại hướng về bản thân con thay vì hướng tới tình yêu thương xót của Chúa. Trong năm 2010 khi con chuẩn bị kỷ niệm 50 năm khấn dòng và 40 năm linh mục, Chúa đã cho con gia tốc được điều quan trọng là: đi sâu hơn, xa hơn vào sự chân nhận những yếu hèn và lỗi lầm mình đã phạm. Con đã thấm thía, và tự đáy lòng đã cùng với Mẹ Ma-ri-a cất lên bài ca “Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi. Phận nô bộc hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới…” Vâng, xin Chúa cho con dành trọn phần còn lại của đời sống ơn gọi con để sấp mặt xuống và khẩn khoản van xin:“Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi”, vì biết rằng nói lên được điều đó, con chắc chắn sẽ được Chúa đón nhận. A-men

                                                                                           Lm. Gioan Nguyễn Văn Ty SDB

Thứ Ba, 2 tháng 2, 2016

Bụt nhà không thiêng!

Trong truyện cổ Trung hoa có kể rằng: Dương Phủ lúc còn nhỏ nhà nghèo, nhưng hết sức cấy cầy để phụng dưỡng cha mẹ. Một hôm ông nghe bên đất Thục có ông Võ Tề đại sư rất nổi tiếng, ông liền xin song thân đến tầm sư học đạo. Đi được nửa đường, ông gặp một vị lão tăng bảo ông rằng:

- Được gặp Võ Tề đại sư chẳng bằng gặp Phật

Dương phủ hỏi: Phật ở đâu?

Lão tăng bảo rằng: ngươi cứ quay trở về, gặp người nào quấn vải trên người, đi dép ngược là chính Đức Phật đó.

Dương phủ nghe lời quay về, đi đường chẳng gặp ai cả. Về tới nhà, đêm khuya, trời tối, ông gọi cửa. Mẹ ông nghe tiếng con mừng quá, chạy vội ra, quấn vội chiếc mền vào người, đi đôi dép ngược ra mở cửa cho ông. Bấy giờ ông nhìn kỹ, giống như hình dáng Đức Phật mà lão tăng đã mô tả.

Từ đó, ông mới hiểu ra rằng: Phật chẳng ở đâu xa mà là chính cha mẹ ở trong nhà. Đúng như cha ông ta vẫn nói: "Tu đâu cho bằng tu nhà - Thờ cha kính mẹ mới là đạo con". Thế nhưng, thói đời thì vẫn thường là: "Bụt nhà không thiêng" hay "Gần Chùa gọi Bụt bằng anh". Người ta xem thường những con người đang chung sống với mình. Ít ai nhận ra điều hay, cái đẹp mà những người thân nhất đang cống hiến cho chúng ta. Có khi còn dửng dưng, xem thường và cư xử thiếu kính trọng với những con người đang sống vì chúng ta. Có nhiều người ở ngoài đời thì nhẹ nhàng, tao nhã, lịch sự, về nhà lại gắt gỏng, chửi chồng đánh con hay đánh vợ chửi con. Có nhiều người thì dễ dàng mở miệng khen ngợi hàng xóm láng giếng, kể cả người dưng nước lã, thế mà, người trong gia đình lại suốt ngày cau có, phàn nàn. Có nhiều người luôn nghĩ cách làm vui lòng hàng xóm nhưng lại tàn bạo thô thiển với gia đình dòng tộc. Có nhiều người luôn tỏ ra đáng yêu trước người dưng nước lã, nhưng lại đáng ghét với người thân họ hàng.Họ chính là những người dại khờ mà cha ông ta bảo rằng: "khôn nhà dại chợ", hay "làm phúc nơi nao để cầu cao rách nát".

Thứ Tư tuần 4 mùa Thường Niên
Lời Chúa: Mc 6,1-6

1 Khi ấy, Chúa Giêsu trở về quê nhà và các môn đệ cùng theo Người.

2 Đến ngày Sabbat, Người vào giảng trong hội đường, và nhiều thính giả sửng sốt về giáo lý của Người, nên nói rằng: "Bởi đâu ông này được như vậy? Sao ông được khôn ngoan như vậy? Bởi đâu tay Người làm được những sự lạ thể ấy? 3 Ông này chẳng phải bác thợ mộc con bà Maria, anh em với Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon sao? Chị em ông không ở với chúng ta đây sao?" Và họ vấp phạm vì Người.

4 Chúa Giêsu liền bảo họ: "Không một tiên tri nào mà không bị khinh bỉ ở quê hương, gia đình họ hàng mình".

5 Ở đó Người không làm được phép lạ nào, ngoại trừ đặt tay chữa vài bệnh nhân, 6và Người ngạc nhiên vì họ cứng lòng tin. Người đi rảo qua các làng chung quanh và giảng dạy.

                 (Nguồn: Uỷ ban Thánh Kinh / HĐGMVN)


Trong bài Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy thái độ khinh thường Chúa Giêsu của dân làng Nazareth. Họ đã vấp phạm với Chúa. Vì họ quá biết về gốc gác, gia cảnh của Chúa. Con bác thợ mộc và bà Maria đang chung sống giữa họ. Đầu óc thủ cựu, lại nặng thành kiến nên không thể nhận ra thiên tính nơi con người của Chúa Giêsu. Dù rằng họ thán phục về tài ăn nói lưu loát của Chúa. Dù rằng họ thán phục vì sự hiểu biết Kinh Thánh của Chúa. Dù rằng họ đã chứng kiến biết bao phép lạ mà Chúa đã làm để cứu chữa các bệnh nhân khỏi đau khổ bệnh tật và khỏi cái chết đã định. Nhưng vì sự kiêu ngạo, cố chấp, dân Do Thái đã không chấp nhận một vì Thiên Chúa quá giản dị như Giêsu con của bác thợ mộc thành Nagiarét. Đối với một dân tộc đã từng tự hào có Thiên Chúa ở cùng. Có cánh tay quyền năng của Chúa đã giúp họ đánh bại quân thù. Tâm trí họ chỉ trông đợi một Đấng Messia oai hùng, Đấng sẽ đến trị vì muôn nước và sẽ giúp họ làm bá chủ hoàn cầu. Chính vì lẽ đó, người đồng hương đã không nhận ra Chúa là Đấng Messia và còn có những lời nói, cử chỉ bất kính. Với thái độ cực đoan đó, Chúa Giêsu đã vạch trần tâm ý của họ với một lời thật xót xa "Không một tiên tri nào được kính trọng tại quê hương mình".

Đó là cách cư xử bất công của con người ngày hôm qua cũng như hôm nay. Họ đánh giá nhau theo định kiến có sẵn trong đầu. Đôi khi còn bị ác cảm, yên trí về địa vị, gia tộc và quá khứ của một người, khiến chúng ta đánh giá sai lệch và nông cạn về nhau.Thực tế là vậy, khi chúng ta đã không có cái nhìn khách quan sẽ dẫn đến những nhận định bất công và thiếu trung thực. Vì "Yêu ai thì nói quá ưa - Ghét ai nói thiếu nói thừa như không". Người tốt hay xấu tùy thuộc vào cái nhìn của chúng ta. Có người ở đây được coi là xấu, ở nơi khác lại được đánh giá là tốt. Có người ở nhà được coi là vô tích sự nhưng ở ngoài lại hoạt bát nhanh nhẹn. Có người ở đây được tán thưởng, ngợi khen, về nhà bị khinh bỉ, xem thường.

Phải chăng Lời Chúa hôm nay là lời nhắc nhở về thái độ vô ơn và bất cập của chúng ta? Tại sao chúng ta không khuyến khích nhau vươn lên thay vì kèn cựa và nói hành nói xấu lẫn nhau? Tại sao chúng ta không có cái nhìn cái tốt về nhau để sống vui tươi lạc quan, thay cho cái nhìn thiển cận và thiếu yêu thương chỉ dẫn đến đau buồn và thất vọng? Xin Chúa giúp chúng ta đủ khôn ngoan nhận ra giá trị lớn lao của nhau, để có thái độ tôn trọng và tri ân. Xin Chúa ban cho chúng ta một tâm hồn rộng mở và giầu lòng quảng đại để chúng ta đón nhận nhau trong yêu thương, và nhất là biết đối xử tốt với nhau khi còn đang sống bên nhau, đừng để thời gian trôi qua trong sự tiếc nuối xót xa... vì mình đã không một lần đối xử tốt với những người thân yêu mà nay đã không còn. Amen.

Thứ Sáu, 29 tháng 1, 2016

Không được chấp nhận!

Tin là thái độ căn bản trong cuộc sống. Chẳng ai có thể sống mà không tin. Không tin người này nhưng lại tin người kia. Không tin lý thuyết này nhưng lại tin giả thuyết nọ. Thành ra ai cũng phải chọn một niềm tin. Không phải chọn một cách vu vơ, mù quáng, nhưng một cách sáng suốt và tự do.
Điều khó là giữ cho lòng mình được tự do thanh thoát, không bị những định kiến ràng buộc hay tư lợi chi phối, nhờ đó chúng ta dám chọn sự thật, dù sự thật đó làm đổ nhào mọi điều ta nghĩ, và xoay lại hướng đi của cả đời ta.
Có lẽ dân làng Nagiarét ít có thứ tự do này.

CHÚA NHẬT 4 THƯỜNG NIÊN C: MẦU NHIỆM ƠN GỌI

Lời Chúa Lc 4, 21 - 30:

Khi ấy, Chúa Giêsu bắt đầu nói trong hội đường rằng: "Hôm nay ứng nghiệm đoạn Kinh Thánh mà tai các ngươi vừa nghe". Mọi người đều làm chứng cho Người và thán phục Người về những lời từ miệng Người thốt ra, và họ nói: "Người này không phải là con ông Giuse sao?"

Và Người nói với họ: "Hẳn các ngươi sắp nói cho Ta nghe câu ngạn ngữ này: 'Hỡi thầy thuốc, hãy chữa lấy chính mình!' Điều chúng tôi nghe xảy ra ở Capharnaum, ông hãy làm như vậy tại quê hương ông'". Người nói tiếp: "Quả thật, Ta bảo các ngươi, không một tiên tri nào được đón tiếp tại quê hương mình. Ta bảo thật với các ngươi, đã có nhiều bà goá trong Israel thời Elia, khi trời bị đóng lại trong ba năm sáu tháng, khi nạn đói lớn xảy ra khắp trong xứ; dầu vậy, Elia không được sai đến cùng một người nào trong các bà đó, nhưng được sai đến bà goá tại Sarepta thuộc xứ Siđon. Cũng có nhiều người phong cùi trong Israel thời tiên tri Elisêô, thế mà không người nào trong họ được lành sạch cả, ngoại trừ Naaman, người Syria".

Khi nghe đến đó, mọi người trong hội đường đều đầy căm phẫn, họ chỗi dậy và trục xuất Người ra khỏi thành. Họ dẫn Người lên triền núi, nơi xây cất thành trì của họ, để xô Người xuống vực thẳm. Nhưng Người rẽ qua giữa họ mà đi.

Khi Đức Giêsu giảng trong hội đường Nagiarét thân quen, họ đã ngỡ ngàng thán phục trước lời Ngài nói. Hãnh diện biết mấy khi một thành viên trong làng nay được tiếng tăm lẫy lừng khắp miền Galilê! Nhưng tin Đức Giêsu là một ngôn sứ lại là điều họ không làm được.

"Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?"

Ký ức của họ vẫn còn giữ nguyên những hình ảnh của Đức Giêsu sống tại đây hơn ba mươi năm qua. Một cuộc sống quá đỗi bình thường! Một ông thợ mộc, con một ông thợ mộc khác. Gốc gác, họ hàng của Đức Giêsu, họ đều nắm rõ. Tiếc là họ đã không thể đi xa hơn.

Cái hiểu biết trước đây khiến họ mãn nguyện, tự hào, và tưởng mình chẳng còn gì để biết thêm về Giêsu.

"Những gì ông đã làm ở Caphácnaum, hãy làm ở đây xem."

Người làng Nagiarét không tin Đức Giêsu là ngôn sứ. Họ muốn Ngài chứng minh bằng phép lạ. Họ muốn thấy tận mắt, chứ không chỉ nghe nói thôi. Nhưng Đức Giêsu không làm phép lạ để ép người ta tin.

Chính lòng tin đưa đến phép lạ, mà Ngài lại chẳng gặp lòng tin nào nơi người đồng hương. Lòng chai đá cứng cỏi của họ chuyển thành sự phẫn nộ, khi Đức Giêsu kể chuyện hai ngôn sứ Êlia và Êlisa được Thiên Chúa sai đến thi ân cho dân ngoại.

Dân làng không giữ được Đức Giêsu cho riêng mình. Khi thấy mình chẳng còn chút đặc quyền, đặc lợi, thì họ tìm cách thủ tiêu Ngài.

Tin Đức Giêsu là ngôn sứ, là Mêsia, là Con Thiên Chúa, điều đó chẳng dễ dàng chút nào. Người không tin cũng có thể đưa ra bao lập luận.

Điều cần thiết là phải tìm kiếm chân lý với cả tâm hồn.

Chúa Thánh Thần vẫn soi sáng cho người thành tâm thiện chí.

Hôm nay, chúng ta đã biết, tin và gần gũi Đức Giêsu, nhưng chúng ta vẫn có nguy cơ tương tự như người Nagiarét: tưởng mình đã múc cạn được mầu nhiệm hay muốn độc quyền giữ Đức Giêsu cho mình.




Tin tưởng vào Chúa!

Trong một cuộc hải trình vượt Đại Tây Dương, khách du lịch đang thư thái ngắm cảnh hoàng hôn trên boong tàu. Bỗng mây đen ùn ùn kéo tới, tối sầm cả một vùng trời. Sấm chớp đổ xuống liên hồi, giông tố cuồn cuộn nổi lên, càng lúc càng thét gào dữ dội. Mọi người trên boong chen lấn nhau chạy về phòng mình. Duy chỉ có một bé trai cứ tiếp tục chạy giỡn trên boong giữa trận cuồng phong. Được hỏi tại sao em không sợ hãi trước cơn giông tố? Em thản nhiên đáp lại: Vì cha em là người cầm lái con tàu!

Lời Chúa Mc 4, 35-41:

Ngày ấy, khi chiều đến, Chúa Giêsu phán cùng các môn đệ rằng: "Chúng ta hãy sang bên kia biển hồ". Các ông giải tán đám đông; vì Người đang ở dưới thuyền, nên các ông chở Người đi. Cũng có nhiều thuyền khác theo Người. Chợt có một cơn bão lớn và những lớp sóng ùa vào thuyền đến nỗi sắp đầy nước. Và Người thì ở đàng lái dựa gối mà ngủ. Các ông đánh thức Người và nói: "Thưa Thầy, chúng con chết mất mà Thầy không quan tâm đến sao?" Chỗi dậy, Người đe gió và phán với biển rằng: "Hãy im đi, hãy lặng đi". Tức thì gió ngừng biển lặng như tờ. Rồi Người nói với các ông: "Sao các con sợ hãi thế? Các con không có đức tin ư?" Bấy giờ các ông kinh hãi và nói với nhau rằng: "Người là ai mà cả gió lẫn biển cũng đều vâng lệnh Người?"

Giống như khách du lịch trong câu chuyện trên, các môn đệ cũng gặp trận cuồng phong khi vượt biển. Các ngài kinh hoàng vì thấy mình như sắp bị nuốt chửng. Bó tay bất lực trước phong ba bão táp, các ngài đã vội đánh thức Đức Giêsu và xin Ngài ra tay cứu giúp: “Thưa Thầy, chúng con chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?”. Ngài liền đe gió và phán với biển như phán với một người bị quỷ ám: “Im đi, câm đi!”. Tức thời gió liền tắt và biển lặng như tờ.

Ai cũng thích cuộc đời mình sóng yên biển lặng, xuôi chèo mát mái. Nhưng cuộc đời nào mà chẳng có những cơn giông? Đại dương nào mà chẳng có bão tố?

Tuy nhiên, chính trong giông tố cuộc đời, nó mới giúp chúng ta nhận ra mình cần đến Chúa nhiều hơn. Vì chính mình còn yếu đuối và bất lực, còn nhát đảm và kém tin.

Cũng chính giông tố sẽ giúp ta đến gần với Chúa, để ta hoàn toàn phó thác cho sự quan phòng của Ngài. Cũng chính giông tố sẽ giúp ta hiểu và biểu lộ được đức tin. Có thể nói, đức tin sẽ lớn lên ít nhiều sau mỗi lần giông tố.

Thánh Phaolô còn viết khuyên dạy chúng ta: “Thiên Chúa không ban cho ta một thần khí nhát sợ nhưng mạnh mẽ, bác ái và tự chủ”, nên chúng ta cần vững tin vào Ngài hơn.

Mỗi người chúngta không khác chi chiếc thuyền nan chông chênh giữa cơn lốc cuộc đời, khó khăn nối tiếp khó khăn. Giống như cậu bé đã tin tưởng ở cha mình cầm lái con tàu, mỗi người chúng ta hãy vững tin ở Thiên Chúa tình yêu. Ngài sẽ hướng dẫn cuộc đời của mỗi người chúng ta.

Có Chúa trong đời, những cô đơn như bị xóa nhòa, những khó khăn dường như nhỏ lại, những yếu đuối dường như được tăng thêm sức mạnh. Chúng ta không cầu xin cho cuộc đời mình như biển lặng để được an hưởng trong sự yên lặng giả tạo, nhưng xin cho cõi lòng chúng ta được bình yên, được yên lặng, được vững tin ngay cả giữa lúc biển động.

Thánh Phanxicô Salêziô dạy rằng: “phải ở lại trong con thuyền mà Thiên Chúa đã đặt chúng ta vào, để hành trình từ cõi đời này về chốn đời sau luôn có Chúa. Nhưng chúng ta phải sẵn sàng ở lại trong sự bình an thanh thản của Ngài.

Con thuyền đời ta chẳng bao giờ được êm ả, quả thật nó chỉ êm ả khi ta tới bến Thiên Đàng. Xin cho lòng ta luôn bình an ngay cả khi Chúa còn đang ngủ, miễn là có Chúa trong thuyền, vì Chúa chính là thuyền trưởng của cuộc đời ta.

(Phêrô Nguyễn Bùi Quốc Khánh SDB)

Thứ Năm, 28 tháng 1, 2016

Hạt giống âm thầm!

Việt Nam là đất nước thuần nông. Điều này được ghi trong lịch sử, thế nhưng trong xã hội hiện nay thì đất nước ta lại đang công nghiệp hóa cách vô tội vạ. Đồng bằng Sông Cửu Long mệnh danh là vựa lúa thế giới, nhưng hạt gạo đến nồi cơm người dân thì toàn của Thái lan, cam pu chia, lào... Lâm Đồng vùng nông nghiệp củ quả nổi tiếng thì nay toàn củ quả made in China đột lốt Đà Lạt... Nhiều và thật nhiều những nông sản của nước Việt "lép vế" hoàn toàn trước sự "đè bẹp" của Trung Quốc...

Trong bối cảnh kinh tế nông nghiệp ảm đạm và thê lương như thế, người Việt có quyền hy vọng nơi Hoàng Anh Gia Lai - một tập đoàn đa ngành nghề nhưng hiện nay chủ yếu lấy Nông nghiệp làm hướng đi vững mạnh để xây dựng và phát triển nông nghiệp theo mô hình hiện đại hóa. Hàng trăm ngàn những con bò được Hoàng Anh nuôi dưỡng để cung ứng nguồn sữa tươi và nguồn thịt sạch, những cánh đồng mía trải dài khắp các tỉnh của Campuchia, hàng trăm ngàn km cao su trải dài ở Lào và nhiều thật nhiều những dự án nông nghiệp khác mà tập đoàn này đang thực hiện cho thấy nông nghiệp đã, đang và luôn là hướng kinh tế bền vững nhất. Giá như Việt Nam có nhiều những người tâm huyết như Hoàng Anh thì có lẽ nông sản Trung Quốc sẽ biến mất trên đất nước chúng ta, nhưng...???

Thứ Sáu tuần 3 mùa Thường Niên

Lời Chúa: Mc 4,26-34:

26 Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Nước Thiên Chúa giống như người kia đã gieo hạt xuống đất: 27 người đó ngủ hay thức, đêm hay ngày, 28 hạt giống cứ đâm mầm và mọc lên thế nào người đó cũng không hay biết nữa. Đất tự nó làm cây lúa mọc lên: trước hết thành cây, rồi đâm bông, rồi kết hạt. 29 Và khi lúa chín, người ấy liền gặt vì đã đến mùa".

30 Người còn phán: "Chúng ta sẽ lấy gì mà hình dung nước Thiên Chúa? hay dùng dụ ngôn nào mà so sánh nước đó được? 31 Nước đó giống như hạt cải, khi gieo xuống đất thì nhỏ bé nhất trong tất cả các hạt trên mặt đất. 32 Nhưng khi gieo rồi, nó mọc lên thành cây rau lớn nhất, và đâm những cành to, đến nỗi chim trời có thể tới núp bóng được". 33 Người dùng nhiều dụ ngôn như thế mà rao giảng lời Chúa cho họ, tuỳ sức họ có thể hiểu được, 34 và Người chỉ nói với họ bằng dụ ngôn, nhưng khi ở riêng với các môn đệ, Người giải thích tất cả cho các ông.

                  (Nguồn: Ủy ban Thánh Kinh / HĐGMVN)

Trong mỗi người chúng ta ít nhiều đã từng gieo trồng một loại cây quả nào đó. Và mỗi lần như thế, chúng ta cùng trong tâm trạng mong đợi, trông ngóng hạt mầm sẽ lớn lên. Thời gian chờ đợi chính là thời giờ dài nhất và kiên trì nhất, có khi là một giờ, một ngày, vài ba ngày và thậm chí gặp những hạt mầm không tốt thì thời gian chờ đợi sẽ vô ích.

Trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa dùng dụ ngôn hạt giống tự mọc lên và dụ ngôn hạt cải. Trước khi gieo giống chúng ta cần làm cho môi trường đất tốt và thuận lợi thì khi chúng ta giống, hạt giống sẽ tự mọc lên, sinh sôi hoa trái và chúng ta chỉ cần đợi đến ngày để thu hoạch. Thành quả thu hoạch cuối cùng luôn nhiều gấp nhiều lần hạt giống ban đầu, đó chính là một quy luật tự nhiên mà Thiên Chúa đã ban định cho chúng ta.

Hạt cải bé xíu nhưng sau khi gieo trồng nó sẽ lớn lên và chom trời có thể làm tổ trên thân hạt cải. Đức tin mỗi người chúng ta cũng vậy, khi ta lãnh nhận bí tích rửa tội, hạt giống đức tin đã được gieo vào chính trong con người và tâm hồn mỗi người chúng ta. Mỗi người chúng ta đều được mời gọi cộng tác vào trong công trình của Chúa và cần có thời gian để niềm tin của chúng ta phát triển, đức tin không có việc làm là đức tin chết. Vì vậy, để hạt giống đức tin được sinh sôi và phát triển mỗi người chúng ta cần kết hợp với Chúa qua lời kinh nguyện, qua các việc hy sinh hãm mình, sống bác ái hòa thuận với tất cả mọi người xung quanh.

Lạy Chúa, Chúa đã gieo cuộc đời như hạt lúa chịu mục nát để mang lại sự sống cho chúng con. Xin cho chúng con biết dùng cuộc sống mình với ơn Chúa để sinh hoa kết trái qua đời sống thánh thiện, bác ái và yêu thương. Amen.


Thứ Tư, 27 tháng 1, 2016

Ngọn đèn hải đăng!

Vào một buổi chiều nọ, một người lấy từ trong hộp một cây nến nhỏ và leo lên tầng tháp cao. Cây nến hỏi: Chúng ta đang đi đâu vậy? - Đi lên cao hơn để chỉ đường cho tàu bè vào cảng. - Nhưng tôi nhỏ bé thế này làm sao tàu bè thấy được? - Chỉ cần ngươi cứ cháy sáng thôi, còn mọi việc để ta lo. Tới đỉnh tháp, người ấy đặt cây nến vào trong một cái đèn có ghép những tấm kính phản quang. Nhờ đó mà ánh sáng lan tỏa ra và mọi tàu bè đều có thể thấy được.

Vì vậy, người đi biển khi nhìn thấy được ánh sáng của ngọn hải đăng, tức họ biết chắc họ đang đi gần đến bờ và cũng có nghĩa là họ đang tiến đến gần bờ của sự sống.

Lời Chúa Mc 4, 21-25:

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng dân chúng rằng: "Có ai đem đèn sáng đặt trong thùng hay dưới gầm giường chăng? Chẳng phải là để đặt trên giá đèn sao? Vì chẳng có gì giấu kín mà chẳng tố lộ ra và chẳng có gì kín đáo mà không bị đưa ra ánh sáng. Ai có tai để nghe, thì hãy nghe". Và Người bảo họ rằng: "Hãy coi chừng điều các ngươi nghe thấy. Các ngươi đong bằng đấu nào, thì người ta sẽ đong lại cho các ngươi bằng đấu ấy, và người ta còn thêm nữa. Vì ai có, sẽ được cho thêm; và ai không có, cả cái đang có cũng bị lấy mất".

Mỗi người tín hữu Kitô đều phải là một ngọn hải đăng, là một vùng ánh sáng để dẫn họ đến hy vọng. Chúa Giêsu đã nói đến nghĩa vụ ấy qua hình ảnh chiếc đèn. Không ai thắp đèn rồi lấy hũ che lại hay đặt dưới gầm giường, nhưng đặt nó trên giá đèn để những ai đi vào đều thấy ánh sáng. Lý do hiện hữu của đèn là để soi sáng. Cũng thế, lý do hiện hữu của người Kitô hữu cũng phải giải sáng niềm tin của họ để người khác nhìn vào mà đi được đến chân lý và hy vọng.

Làm chứng cho đức tin bằng cuộc sống hằng ngày, đó là phương thức rao giảng Tin Mừng hùng hồn nhất. Giữa mù khơi của những phong ba bão táp, con người cần nhìn thấy được những ngọn hải đăng để hướng dẫn. Giữa những ngọn đèn hằng ngày, con người cần nhìn thấy được những ngọn đèn để còn tiếp tục hy vọng.

Âm thầm trong những bổn phận hằng ngày, hiện diện giữa lòng xã hội hôm nay bằng cuộc sống vui tươi, phục vụ bác ái, nhẫn nhục của người tín hữu Kitô chân chính là lời rao giảng hùng hồn cho niềm tin. Có biết bao người đang nhìn vào cuộc sống chứng tá ấy để còn hy vọng, còn tìm ra được một lẽ sống, một ý nghĩa cho cuộc đời.