Thứ Bảy, 8 tháng 4, 2017

Ba ngã rẽ

Hôm nay toàn thể Giáo Hội tưởng niệm Chúa Giêsu Kitô vào thành Giêrusalem để hoàn tất mầu nhiệm Vượt Qua của Ngài. Ngày lễ hôm nay gồm có hai phần: phần đầu kính nhớ việc Chúa vào thành thánh bằng cuộc rước kiệu lá, phần hai là thánh lễ tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa.

Trước khi bước vào khổ nạn, Chúa Giêsu lên thủ đô Giêrusalem lần cuối cùng. Dân chúng lũ lượt kéo nhau đi như cuộc biểu tình vĩ đại, trên đường vào thành thánh, họ trải áo choàng, chặt những nhánh cây rải lối để Chúa đi qua. Tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô “Hoan hô con vua Đavid”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như một vị vua.

Kết quả hình ảnh cho lễ lá 2017

Chỉ sau ít ngày nhiệt liệt tung hô, dân Do Thái lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la đòi giết Chúa Giêsu theo sự xúi giục của giới lãnh đạo tôn giáo. Người đã bị bắt, bị trói và bị dẫn đến trước mặt thượng tế Caipha, rồi đến trước tổng trấn Philatô, bị xét hỏi, bị đánh đập, bị kết án và cuối cùng bị hành quyết trên núi Sọ như một tên trọng phạm của xã hội.

Lễ Lá có một khởi đầu vui và một kết thúc buồn. Chúa Giêsu long trọng vào thành thánh Giêrusalem trong lời hoan hô chúc tụng và sau đó chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá.

Con đường vào thành Giêrusalem vinh quang vương giả với đám đông ngưỡng mộ, cành lá và quần áo trải thảm đường đi. Con đường lên Núi Sọ với thân kẻ tội đồ vác thập giá, những lời nhục mạ, roi đòn tơi tả và hai tội nhân đồng hành.

Tiến bước theo Chúa trên đường thương khó để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.

Từ Chúa Nhật Lễ Lá đến Thứ Sáu Tuần Thánh thời gian không dài, nhưng biết bao người đã thay lòng đổi dạ. Từ cổng thành đến Núi Sọ đường đất không xa, nhưng biết bao người đã rẽ lối khác. Tại sao như thế?

Theo dấu vết của những người bỏ cuộc để nhận diện những ngã rẽ trên hành trình cuộc đời. Có ba ngã rẽ tiêu biểu, của Giuđa, Phêrô và đám đông (ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt).

1. Ngã rẽ của đám đông.

Một trong những bức tranh nổi tiếng nhất của danh họa Rembrandt, người Hoà Lan, sống vào thế kỷ 17, đó là bức tranh "ba thập giá". Nhìn vào tác phẩm, ai cũng bị thu hút ngay vào trung tâm: giữa thập giá của hai người bất lương, thập giá của Chúa Giêsu nổi bật trong mầu nhiệm đau thương và cứu độ. Dưới chân thập giá là cả một đám đông, gương mặt nào cũng biểu lộ hận thù oán ghét...

Dân thành Giêrusalem nô nức phấn khởi, trải áo choàng, chặt những cành lá cây rải trên đường để Chúa đi qua, tay cầm cành lá, miệng reo hò tung hô Chúa, họ dành cho Chúa một nghi lễ đón rước như cho một vị vua của họ. Họ vừa đi vừa tung hô: “Hoan hô con vua Đavít”, “Vạn tuế Đấng nhân danh Thiên Chúa mà đến”. Thế mà sau đó không lâu, nghe lời xúi giục của tư tế, kinh sư, pharisiêu, họ lại biểu tình đả đảo, chống đối, hò la, gào thét đòi “đóng đinh nó đi!”. Hàng vạn người đã theo Chúa, mê mệt nghe đến mấy ngày quên ăn, quên về. Biết bao người reo mừng nghênh đón Chúa ngày long trọng vào thành. Thế mà trên Núi Sọ chỉ thấy những người đến sỉ vả, chê bai, nhạo cười.

Đám đông đã rẽ sang lối nào? Thưa họ rẽ sang lối dư luận. Thiếu lập trường, chạy theo đám đông. Thấy người ta đi nghe Chúa thì cũng đi. Thấy người ta nhạo cười Chúa thì cũng cười nhạo. Thấy người ta kết án Chúa thì cũng kết án. Đám đông thật nông nổi nhẹ dạ. Đám đông thường dễ bị lôi cuốn, người ta làm gì mình làm nấy mà nhiều khi chẳng biết tại sao. Có nhiều người trong đám đông đó không hề thù ghét Chúa Giêsu. Có lẽ còn có nhiều người đã từng nhận ân huệ của Chúa Giêsu! Thế nhưng, họ đã bị đám đông lôi cuốn vào việc kết án người công chính. Giữa cuộc đời hôm nay, biết bao người công chính, thanh liêm, trung trực, chính nghĩa đã chịu vu vạ cáo gian dẫn đến tù tội do đám đông nông nổi bị lừa dối, bị tuyên truyền!!!

2. Ngã rẽ của Giuđa.

Giuđa là môn đệ trung tín theo Chúa trong suốt ba năm. Ông còn được Chúa tin cẩn trao phó cho công việc quản lý. Một ngày kia Chúa Giêsu đang cùng các môn đệ dùng bữa tại nhà ông Simon, bỗng có một phụ nữ đem đến một chai dầu thơm quí giá, rồi chị lấy dầu xức lên chân Chúa. Giuđa phản đối “Sao lại phí thế! Đem chai dầu bán cũng được hơn 300 đồng bạc, lấy số tiền đó đi giúp người nghèo có phải thực tế hơn không?”. Giuđa có đầu óc biết tính toán và thực tế của người quản lý tài chánh.

Ngày Lễ Lá chắc chắn ông có mặt. Nhưng khi Chúa chịu chết thì ông biệt vắng. Ông đã rẽ sang lối khác. Lối rẽ theo tiền bạc vật chất. Theo tiếng gọi của tiền bạc, ông đã đưa chân đi những bước xa lạ. Ông đi vào con đường khác. Ông trở thành con người khác. Ông bỏ Chúa vì tiền. Tệ hơn nữa ông bán Chúa để lấy tiền. Một con người bạc bẽo, vô tình vô nghĩa. Trong tình yêu có gì đẹp bằng nụ hôn! Vậy mà Giuđa dùng nụ hôn làm dấu hiệu nộp Thầy. Trong tình yêu, tội phản bội làm tổn thương và đau đớn vô cùng. Tình yêu càng lớn lao bao nhiêu, khi bị phản bội càng đau đớn bấy nhiêu. Ngã rẽ Giuđa biểu tượng cho những người quá say mê của cải vật chất ở đời này đến mức quên tình quên nghĩa, phản bội người khác, kể cả ân nhân của mình.

3. Ngã rẽ của Phêrô.

Phêrô là môn đệ thân tín của Chúa. Là người đứng đầu tông đồ đoàn. Ông thề rằng dù mọi người có bỏ Chúa thì ông vẫn trung thành với Chúa. Ngày Lễ Lá, Phêrô ở bên Chúa. Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, chẳng thấy bóng ông đâu. Phêrô đã rẽ sang lối khác: lối rẽ lười biếng, thích hưởng thụ và sợ bị liên lụy. Lười biếng vì khi vào vườn Giêtsimani, Chúa kêu gọi ông hãy thức cầu nguyện với Chúa, vậy mà ông cứ ngủ. Hưởng thụ vì trong sân tòa án, thay vì theo dõi cuộc xét xử Thầy thì ông lại vào tìm hơi ấm nơi đống lửa giữa sân. An nhàn hưởng thụ đã kéo ông xa Chúa. An nhàn hưởng thụ đã đẩy ông đến chỗ chối Chúa. Phêrô chối Chúa cũng vì ông sợ bị liên lụy. Nếu những người hỏi ông không phải là những người của vị Thượng Tế đang xét xử Chúa Giêsu thì chắc Phêrô vẫn mạnh dạn nhìn nhận mình là môn đệ Đức Giêsu. Nhưng vì họ là người của Thượng Tế nên ông phải chối, kẻo họ báo cáo rồi ông cũng bị bắt luôn.

Phêrô đã theo Chúa Giêsu suốt ba năm. Phêrô nếm trải biết bao gian khổ, ông đón nhận tất cả mà không kêu ca nề hà gì. Nhưng hôm nay ông chối Chúa vì sợ bị liên lụy, vì an toàn của sinh mạng. Ông chấp nhận từ bỏ và hy sinh, nhưng chỉ đến một giới hạn nào đó thôi.

Phêrô là người được Chúa Giêsu yêu thương, chăm sóc, lo lắng, và được Ngài ban cho biết bao là ân huệ. Nào là vai trò thủ lãnh của Nhóm Mười Hai, nào là nhiệm vụ cầm giữ chìa khóa Nước Trời: “Dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc như vậy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi như vậy” (Mt 16,19); và còn được gọi là Kêpha, nghĩa là đá … vậy mà khi đối mặt với một đứa hầu gái vô danh tiểu tốt, đá lại mềm ra như bún, ông chối phăng không biết Giêsu là ai, ông lại còn dám cả gan thề độc: "Tôi thề là không có biết người các ông nói đó!” (Mc 14,71). Ông là người nhiệt tình nhất với Chúa Giêsu, thế mà cuối cùng cũng chối Thầy. Thế mới biết, bất cứ ai cũng yếu đuối và cũng có thể sa ngã nặng nề. Phêrô đã sa ngã. Vậy mà ông cứ luôn tưởng rằng mình mạnh mẽ.

Để tự nhiên, chắc chắn không ai nỡ nhẫn tâm bán Chúa, chối Chúa, lên án Chúa. Người ta thay lòng đổi dạ do tác động của tiền bạc, của hưởng thụ, sợ bị liên lụy và của theo hướng của dư luận. Đó là những ngã rẽ nguy hiểm.

Nếu có mặt trong ngày Chúa chịu khổ nạn, tôi và bạn có rẽ sang lối nào không? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa? Tôi và bạn sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô? Tôi và bạn sẽ rẽ sang những con hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ? Tôi và bạn sẽ phụ hoạ với đám đông kết án Chúa? Hay tôi và bạn cũng theo quân lính đánh đập Chúa? Tôi và bạn có kết án bất công như Philatô không? Tôi và bạn có hùa với kẻ mạnh đàn áp bắt nạt người thấp cổ bé miệng như đám đông dân chúng không? Tôi và bạn phải dứt khoát lựa chọn một con đường.

Con đường theo Chúa không êm ái nhẹ nhàng và thênh thang đâu. Đó là con đường thập giá: “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hàng ngày mà theo” (Lc 9,23). Đường thập giá là đường một chiều. Đường thập giá là đường lên dốc. Và đường thập giá là đường có nhiều ổ gà dằn xóc. Vì thế mà có nhiều người bỏ cuộc nên rẽ sang một hướng đi khác. Nhận diện ba ngã rẽ của tiền bạc dẫn lối, thích an nhàn hưởng thụ, sợ liên lụy bản thân và hùa theo dư luận để chúng ta tỉnh táo mà bước đi trên hành trình đức tin cuộc đời. Vác thập giá hôm nay chính là đón nhận những bệnh tật, thất bại, đau khổ, bất công…như những thử thách của lòng tin để vững bước theo Chúa đến cùng.

Tuần Thánh, chúng ta cùng dõi bước theo con đường thập giá của Chúa Giêsu. Đó là con đường đau khổ, nhưng cũng là con đường tình yêu và là con đường cứu độ. Trên con đường khổ giá của Chúa, chúng ta sẽ gặp rất nhiều tình huống tăm tối của đời thường: vu khống, phản bội, ghen tương, bất công, nhục nhã, đau khổ, sợ hãi, cô đơn, hèn nhát, cái chết. Vượt trên tất cả, chúng ta gặp được một tình yêu. Tình yêu vô vô bờ bến của Chúa Giêsu đối với Chúa Cha và với nhân loại. Chỉ có tình yêu mới làm cho mọi khổ đau có giá trị cứu độ.

Ước mong mỗi người có thể đón nhận những gai góc của cuộc đời với thái độ của Chúa Giêsu.

Lạy Chúa, xin cho con luôn mạnh mẽ và kiên trì tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa dẫn con đi. Amen.

(Lm Giuse Nguyễn Hữu An)

TÌNH YÊU CHIẾN THẮNG HẬN THÙ

Nhiều lần nói về hòa bình cho thế giới, Đức Thánh Giáo Hoàng JP II đã quả quyết: Dùng bạo lực để đáp lại bạo lực thì chỉ có thể gia tăng bạo lực. Chỉ có tình yêu và sự tha thứ mới có thể đem lại hòa bình cho nhân loại. Đức Thánh Giáo Hoàng JP II đã rút ra kết luận này từ chính tấm gương của Chúa Giêsu, Đấng đã không dùng bạo lực để đối đồu với sự dữ, sự ác, nhưng Ngài dùng tình yêu và sự tha thứ để chiến thắng hận thù.

Kết quả hình ảnh cho lễ lá 2017

Các bài đọc trong ngày Lễ Lá hôm nay thuật lại cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Thánh Matthew muốn minh chứng rằng, Chúa Giêsu quả thật là Đấng cứu Thế, là Thiên Chúa quyền năng; Ngài có thể làm được tất cả mọi sự, nhưng khi mang thân phận con người, Chúa Giêsu đã hoàn toàn chấp nhận trở nên như con người chúng ta. Trải qua cuộc thương khó, Chúa Giêsu không phản ứng theo kiểu thế gian, nhưng luôn thể hiện một tình yêu nhân từ độ lượng với mọi người, kể cả với những kẻ đang gây đau khổ cho Ngài.

Bài Tin Mừng được đọc khi kiệu lá, cho thấy một bầu khí tưng bừng náo nhiệt của dân chúng, họ nghĩ rằng đã đến lúc Chúa Giêsu đứng lên huy động dân chúng, chống lại chính quyền đô hộ Roma. Có nghĩa là họ muốn Chúa Giêsu đi theo con đường chính trị, sử dụng chiến tranh, bao lực. Vì thế, khi thấy Chúa Giêsu được các môn đệ đón rước vào thành Giêrusalem, những người Do Thái đã tung hô: Hoan hô Con vua Davit! Chúc tụng Đấng nhân Danh Chúa mà đến.

Chúa Giêsu đã không để mình bị lôi kéo vào xu thế của đám đông. Việc Ngài vào thành Giêsuralem là để làm trọn những lời Kinh Thánh đã nói về Người. Người không thể hiện mình như một chiến binh ngồi trên chiến mã, nhưng tỏ ra là một vị vua đem lại hòa bình, ngồi trên lưng lừa con. Với tư thế này, Chúa Giêsu cho thấy Người là một vị vua tình yêu, chứ không phải là một hoàng đế; Người dùng sự hiền lành, tình yêu thương để đối xứ với nhân loại, chứ không dùng bạo lực và vũ khí; Người sẽ chiến thắng thế gian bằng tình yêu và sự tha thứ, chứ không bằng binh lực chiến tranh.

Vì không chấp nhận đường lối hòa bình của Chúa Giêsu, nên Giuda đã muốn dồn Chúa Giêsu đến chỗ phải chấp nhận một cuộc khởi nghĩa bằng bao lực, tấn công. Anh đã thỏa thuận với các thượng tế để tìm cách trao nộp Chúa Giêsu cho họ. Chúa Giêsu biết sự việc đã xảy ra, Ngài biết Giuda, một học trò đã bị đồng tiền và sự ác chi phối, Ngài đau đớn trong lòng về sự phản bội này, song Chúa Giêsu đã để cho tình yêu của Ngài bao trùm tất cả. Ngài không oán trách, nhưng vẫn bày tỏ tình thương đối với anh. 

Bữa tiệc Vượt Qua diễn ra trong bầu khí thánh thiện với tâm tình tạ ơn của cả dân tộc Israel để tưởng nhớ việc Thiên Chúa giải thoát họ khỏi đất Aicập. Chúa Giêsu đã biến bữa tiệc này thành bữa tiệc hy sinh trao tặng. Trong bầu khí tràn ngập tình yêu thương, Chúa Giêsu đã lên tiếng nhắc cho Giuda biết về việc làm sai trái của anh: Một người trong các con sẽ phản bội Thầy. Tuy nhiên, vì Giuda đã đóng cửa lòng, đã quay lưng lại với tình yêu để chọn thế gian và bạo lực, anh đã không đón nhận được tín hiệu yêu thương từ nới Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không xua đuổi, không từ chối anh, Ngài vẫn thể hiện sự quan tâm, tình yêu thương đối với anh, Ngài bẻ bánh trao cho anh, lấy thức ăn cho anh, nhưng anh vẫn không cảm nhận được điều đó. Anh đứng lên bỏ ra ngoài.

Không có gì gây tổn thương bằng, khi những kẻ mình yêu thương tỏ ra dửng dưng vô cảm và với mình. Chúa Giêsu cũng đã trải qua tâm trạng như thế. Không còn cách nào hơn để diễn tả tình yêu và sư hy sinh tự hiến của mình, Chúa Giêsu đã cầm lấy bánh và rượu, trao cho các môn đệ và nói với các ông: Đây là mình Thầy, đây là máu Thầy sẽ đổ ra để tha tội cho nhân loại. Nhưng các môn đệ dường như vẫn không thể hòa cùng một nhịp yêu thương và tâm trạng của Chúa Giêsu, họ cũng chẳng chú ý là mấy. Khi Thầy, trò cùng Chúa đến vườn Cây Dầu, các môn đệ tìm chỗ để ngủ, họ để Chúa cô đơn, một mình chiến đấu với sự giằng co và sợ hãi. Sau những lần kêu mời các ông: Hãy tình thức và cầu nguyện, Ngài như một người mẹ hết sức cảm thông khi thấy mắt con mình năng trĩu, Chúa không trách các ông, nhưng Ngài nói: Thôi! Các con cứ ngủ đi.

Khi bị bắt, bị điệu đến trước dinh Caipha, một mình Chúa Giêsu đứng giữa những đám người đang nuôi trong mình sự ghen tức muốn trả thù. Những người này đã từng sợ mất ảnh hưởng, sợ Chúa Giêsu tranh giành quyền lực, khi thấy đám đông dân chúng theo Ngài, nên giờ đây là lúc họ trút sự thù óan lên Chúa Giêsu. Trả lời cho những lời chửi bới vu cáo này là sự im lặng. Nhưng khi cần phải nhân danh Thiên Chúa để trả lời câu hỏi của Thượng tế: Ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không? Chúa Giêsu đã khẳng định: Đúng như Ngài vừa nói.

Khi Chúa Giêsu bị điệu đến dinh tổng trấn Philatô, những người Do Thái, do sự xúi giục của các Thượng Tế, đã tráo trở và thể hiện âm mưu của mình là muốn Chúa Giêsu phải chết. Nếu như trước đây, các Thượng tế chỉ khó chịu với Chúa Giêsu về vấn đề giáo lý, tôn giáo, lúc này trước mặt Philatô, họ vu cáo Chúa Giêsu như một kẻ bạo loạn chính trị nguy hiểm. Họ nói: Ông này xưng mình là vua dân Do Thái; ông này xúi dân không nộp thuế cho Hoàng đế. Những người Do Thái công khai nhận mình chỉ tôn thờ Hoàng đế, họ chọn tha Baraba là kẻ trộm cướp và không chấp nhận Chúa Giêsu là Đấng Kitô. Đáp lại sự cáo buộc tráo trở này và sự gian ác của người Do Thái, sự nhục mạ của các tên lính, Chúa Giêsu không nói một lời nào, Ngài chỉ nhìn họ bằng ánh mắt chạnh lòng thương vì họ lầm không biết.

Khi Philatô trao Chúa Giêsu cho những người Do Thái và quân lính hành hạ và đem đi đóng đinh, Chúa Giêsu một mình như đứng giữa bầy sói. Sự gian ác thâm hiểm của con người đã lên đến cực độ, sự thù oán tích tụ lâu ngày, nay có dịp bùng lên. Suy gẫm đoạn tường thuật này, Tin Mừng cho thấy, những người Do Thái dường như đã đánh mất tính người và tình người, chỉ còn lại trong mình bộ mặt và sự dã tâm của những con dã thú. Chúng nhảy vào xâu xé, đánh đập, hành hạ Chúa Giêsu cho thỏa với bản năng của mình. Trước sự hung tợn đó, Chúa Giêsu vẫn không hề sợ hãi, Ngài đón nhận tất cả với một lòng yêu mến hoàn toàn dành cho Thiên Chúa Cha và với một tình yêu bao dung quảng đại dành cho nhân loại.

Trong lúc chịu đau đớn như vậy, Chúa vẫn thể hiện tình thương và sự quan tâm đến những người chung quanh, trước hết là các phụ nữ. Chúa cảm thông với trách nhiệm làm vợ làm mẹ của họ, cảm thông với những nỗi khổ tâm của họ khi bị chồng con phản bội: Đừng khóc thương ta, nhưng hãy khóc thương các chị và con cháu các chị. Khi bị đóng đinh trên thập giá, Chúa Giêsu đã dành tình yêu thương của mình cho người mẹ và những người môn đệ đang ở chung quanh. Cuối cùng, sau khi đã hoàn tất mọi sự, Chúa Giêsu đã trao phó cả linh hồn và xác cho Thiên Chúa, như một người con thảo hiếu hết mực yêu mến và vâng phục cha mình.

Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta dễ bị cám dỗ dùng bạo lực, nóng nảy để giải quyết vấn đề, dùng sự trả thù ghen ghét, ác độc làm vũ khí. Mỗi người được mời gọi nhìn vào Chúa Giêsu trong cuộc thương khó này, để học nơi Chúa sự yêu thương tha thứ, để biết cư xử tha thứ và yêu thương đối với những người gây tôn thương cho mình; dùng tình yêu và trái tim thương xót để giải quyết tất cả các vấn đề xảy đến trong cuộc sống, nhất là trong gia đình. Noi gương Chúa Giêsu xin cho chúng ta cũng biết để cho tình yêu và sứ tha thứ vượt thắng tất cả. Amen.

Lm.Giuse Đỗ Đức Trí

Chủ Nhật, 26 tháng 3, 2017

dấu lạ điềm thiêng

Có một bà đạo đức thường áy náy vì một vài tật xấu mà bà không thể chừa được. Bèn đến than thở với Cha linh hướng. Ngài nói: “Con có để ý thấy không, vào mùa đông, lá sồi rụng nhiều, nhưng vẫn còn vài chiếc. Gió đông thổi mạnh nhưng vẫn không làm chúng rụng xuống. Nhưng khi mùa xuân đến, chúng tự động rụng, nhường chỗ cho những lá non nảy lộc. Vậy cái gì làm cho chúng rơi rụng? Thưa đó là sự sống mới lưu chuyển trong thân cây. Với chúng ta cũng vậy. Khi sự sống mới của Đức Kitô nảy nở trong đời sống, ta sẽ mau thăng tiến trên con đường đạo đức”. 

Thứ Hai trong tuần 4 mùa chay A
Lời Chúa: Ga 4,43-54:
43 Sau hai ngày, Đức Giê-su bỏ nơi đó đi Ga-li-lê. 44 Chính Người đã quả quyết : ngôn sứ không được tôn trọng tại quê hương mình. 45 Khi Người đến Ga-li-lê, dân chúng trong miền đón tiếp Người, vì đã được chứng kiến tất cả những gì Người làm tại Giê-ru-sa-lem trong dịp lễ, bởi lẽ chính họ cũng đã đi dự lễ.

46 Vậy Đức Giê-su trở lại Ca-na miền Ga-li-lê, là nơi Người đã làm cho nước hoá thành rượu. Bấy giờ có một sĩ quan cận vệ của nhà vua có đứa con trai đang bị bệnh tại Ca-phác-na-um. 47 Khi nghe tin Đức Giê-su từ Giu-đê đến Ga-li-lê, ông tới gặp và xin Người xuống chữa con ông vì nó sắp chết. 48 Đức Giê-su nói với ông : "Các ông mà không thấy dấu lạ điềm thiêng thì các ông sẽ chẳng tin đâu !" 49 Viên sĩ quan nói : "Thưa Ngài, xin Ngài xuống cho, kẻo cháu nó chết mất !" 50 Đức Giê-su bảo : "Ông cứ về đi, con ông sống." Ông tin vào lời Đức Giê-su nói với mình, và ra về. 51 Ông còn đang đi xuống, thì gia nhân đã đón gặp và nói là con ông sống rồi. 52 Ông hỏi họ con ông đã bắt đầu khá hơn vào giờ nào. Họ đáp : "Hôm qua, vào lúc một giờ trưa thì cậu hết sốt." 53 Người cha nhận ra là vào đúng giờ đó, Đức Giê-su đã nói với mình : "Con ông sống", nên ông và cả nhà đều tin. 54 Đó là dấu lạ thứ hai Đức Giê-su đã làm, khi Người từ miền Giu-đê đến miền Ga-li-lê.

Con người thường có yếu đuối, kể cả tội lỗi, thế nhưng, nếu tin vào Đức Ky-tô chúng ta sẽ được biến đổi trong ân thánh của Chúa. Đọc Kinh Thánh chúng ta thấy có rất nhiều con người bất toàn đã nên hoàn thiện nhờ tin vào Đức Giê-su. Sự sống trong Đức Giê-su Ky-tô sẽ làm cho chúng ta thay da đổi thịt trở nên hoàn thiện hơn.

Đây là dấu chỉ thời Messia. Thời ân sủng của Thiên Chúa ban tràn đày trên con người. Đức Giê-su chính là hiện thân của ơn cứu rỗi. Chính Ngài đã ban lại sự sống mới cho những ai tin vào Ngài. Sự sống ân sủng ấy Ngài còn ban cho cả kẻ ngoại đạo miễn là họ tỏ lộ lòng tin của mình nơi Đức Giê-su. Như trường hợp viên sỹ quan triều đình đã được hưởng hạnh phúc ấy: con trai ông sắp chết nhưng được Chúa cho sống lại. Lý do là vì ông đã tin, một đức tin mạnh đến nỗi ông vâng lời Chúa ra về trước khi thấy Ngài chữa bệnh cho con ông. Ông chỉ tin vì nghe mặc dù chưa thấy.

Xin cho chúng ta cũng có một đức tin sống động để biết mở lòng cho ân sủng của Chúa thấm nhập và đổi mới cuộc đời chúng ta.

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Thứ Hai, 6 tháng 3, 2017

cầu nguyện

Đôi khi qùy trước mặt Chúa, chúng ta chẳng biết nói gì, thưa gì với Chúa. Thông thường khi gặp hoạn nạn, khi gặp khó khăn chúng ta dễ tâm sự với Chúa, hay đúng hơn là chúng ta còn có chuyện để nói với Chúa, còn bình thường thì chẳng biết nói gì với Chúa, nếu không mượn những lời kinh thuộc lòng thì có lẽ chúng ta cũng chỉ tới với Chúa, độ dăm ba phút rồi mau chóng chào Chúa ra về.

Đức HồngY FX Nguyễn Văn Thuận, Ngài đã kể câu chuyện như sau: 
Có một người nông dân tên là Jim, hằng ngày vác cuốc đi làm ngang qua nhà thờ, cậu đều vào nhà thờ một thoáng rồi đi ra. Sự kiện được lập đi lập lại nhiều lần, đến nỗi nhiều người thắc mắc, không hiểu Jim vào nhà thờ nói gì với Chúa mà mau lẹ thế. Họ mới hỏi Jim: Anh vào nhà thờ cầu nguyện sao lại nhanh thế? Anh đã nói gì với Chúa?

Jim đã trả lời: Tôi chỉ vào nhà thờ làm dấu rồi nói với Chúa. “Lạy Chúa, có Jim đây” rồi tôi đi ra.

Sự kiện được tiếp diễn cho đến khi cậu Jim đã thành ông lão, nằm kiệt quệ trên giường bệnh. Lúc đó hàng xóm láng giềng đến thăm hỏi ông và họ ngạc nhiên khi thấy bên giường ông luôn có một cái bàn, một cái ghế và một ly nước. Họ hỏi ông: Nhà không có khách sao ông vẫn để một ly nước. Ông nói: Ngày xưa khi còn trẻ hằng ngày tôi vẫn đến với Chúa và nói với Chúa: Lạy Chúa, Jim đây. Cho tới bây giờ, tôi đã gìa không còn có thể đến với Chúa được nữa, nên Chúa vẫn hằng ngày đến với tôi và nói: Jim ơi, có Chúa đây”.

Thứ Ba sau CN I Mùa Chay
Lời Chúa: Mt 6, 7-15:
7 Một hôm, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng :” Khi cầu nguyện, anh em đừng lải nhải như dân ngoại ; họ nghĩ rằng : cứ nói nhiều là được nhận lời. 8 Đừng bắt chước họ, vì Cha anh em đã biết rõ anh em cần gì, trước khi anh em cầu xin.
9 “Vậy, anh em hãy cầu nguyện như thế này :
“Lạy Cha chúng con là Đấng ngự trên trời,
xin làm cho danh thánh Cha vinh hiển,
10 triều đại Cha mau đến,
ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời.
11 Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày;
12 xin tha tội cho chúng con,
như chúng con cũng tha
cho những người có lỗi với chúng con ;
13 xin đừng để chúng con sa chước cám dỗ,
nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ.
14 “Thật vậy, nếu anh em tha lỗi cho người ta, thì Cha anh em trên trời cũng sẽ tha thứ cho anh em. 15 Nhưng nếu anh em không tha thứ cho người ta, thì Cha anh em cũng sẽ không tha lỗi cho anh em.”

Thực vậy, cầu nguyện không phải là mình nói thật nhiều với Chúa, hay là tìm những lời thật hay, thật văn chương để nói với Chúa, nhưng điều quan yếu là biết dành một thời gian cho Chúa. Khi chúng ta đón nhận một món quà, không phải vì nó có một giá trị vật chất to lớn mà mình vui, nhưng là vượt lên trên món qùa là cả tấm lòng người cho dành cho mình. Món quà tuy nhỏ nhưng người cho với cả tấm lòng yêu mến thì cao qúy hơn những tặng phẩm cao sang mắc tiền. Vì quà tặng chỉ là tượng trưng cho tấm lòng người cho. Đó là một sự quan tâm, một tình yêu mà người cho dành cho chúng ta. Việc chúng ta cầu nguyện với Chúa cũng thế. Điều quan yếu không phải là cầu nguyện như thế nào, hay bao nhiêu lần trong ngày mà là tấm lòng chúng ta dành cho Chúa như thế nào? Cầu nguyện vì tình yêu, vì lòng yêu mến Chúa hay đó chỉ là thói quen, làm cho qua lần chiếu lượt, hời hợt cho xong. 

Hôm nay Chúa muốn chúng ta cầu nguyện với Chúa như người con thưa chuyện với cha mình. Người con chỉ ước mong cho công việc của Cha được thành toàn. Cho con cái biết thực thi ý cha. Cho gia đình ấm no hạnh phúc. Cha anh chị em biết yêu thương nhau và biết tránh xa sự dữ là thói hư tật xấu để tâm hồn luôn tràn ngập bình an trong Chúa. 

Xin Chúa giúp chúng ta biết dành thời giờ cho Chúa để cám ơn về những ơn lành Chúa ban và xin ơn Chúa phù trì nâng đỡ chúng ta. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Thứ Bảy, 4 tháng 3, 2017

Những cơn cám dỗ

Có nhiều người thắc mắc: Ăn chay là gì? Phải chăng là để dằn vặt thân xác, hành khổ con người cho Chúa vui lòng? Hỏi như vậy là chưa hiểu đạo, chưa hiểu hết ý nghĩa của việc ăn chay. Chúa đâu phải quá độc ác, bệnh hoạn, vui lòng khi thấy con người chịu khốn khổ. Ăn chay một phần để hy sinh đền tội, nhưng mục đích chính của việc ăn chay là để thao luyện tâm hồn chống lại quỷ dữ.

Ngày nay người ta quên sự có mặt của ma quỷ. Nhưng ma quỷ vẫn có đó và và vẫn tích cực hoạt động nhằm phá huỷ thế giới, tiêu diệt con người. Ma quỷ rất tinh ma xảo quyệt nên người ta khó nhận ra âm mưu, dấu vết của chúng.

Chúa Nhật 1 Mùa Chay năm A.
Lời Chúa: Mt 4, 1-11:

Khi ấy, Chúa Giêsu được Thánh Thần hướng dẫn vào hoang địa để chịu ma quỷ cám dỗ. Khi Người đã nhịn ăn bốn mươi đêm ngày, Người cảm thấy đói.

Và tên cám dỗ đến gần, nói với Người rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy khiến những hòn đá này biến thành bánh". Nhưng Chúa Giêsu đáp lại: "Có lời chép rằng: 'Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng bởi mọi lời do miệng Thiên Chúa phán ra'".

Bấy giờ ma quỷ đưa Người lên Thành thánh, và đặt Người trên góc tường Ðền thờ, rồi nói với Người rằng: "Nếu ông là Con Thiên Chúa, hãy gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng: Ngài đã ra lệnh cho các Thiên Thần đến với ông, và chư vị đó sẽ nâng đỡ ông trên tay, để ông khỏi vấp chân vào đá". Chúa Giêsu đáp: "Cũng có lời chép rằng: "Ngươi đừng thử thách Chúa là Thiên Chúa ngươi".

Quỷ lại đưa Người lên núi rất cao, và chỉ cho Người xem thấy mọi nước thế gian và vinh quang của những nước đó, rồi nói với Người rằng: "Tôi sẽ cho ông tất cả những cái đó, nếu ông sấp mình xuống thờ lạy tôi". Bấy giờ Chúa Giêsu bảo nó rằng: "Hãy lui đi, hỡi Satan! Vì có lời đã chép: "Ngươi phải thờ lạy Chúa là Thiên Chúa ngươi, và chỉ phụng sự một mình Ngài".

Bấy giờ ma quỷ bỏ Người. Và các thiên thần tiến lại, hầu hạ Người.

Kết quả hình ảnh cho chúa giêsu chịu cám dỗ

Nhìn vào ba cuộc ma quỷ cám dỗ Đức Giêsu, ta thấy ma quỷ rất tinh khôn. Nó có kế hoạch, có chiến thuật, tấn công nhiều đợt, nhiều bước.

Thoạt tiên ma quỷ tấn công vào những bản năng sơ đẳng nhất nơi con người: bản năng sinh tồn, bản năng thống trị, bản năng đối nghịch. Những bản năng ấy gắn liền với những nhu cầu căn bản, chính đáng của con người.

Kéo chú ý của người ta vào những nhu cầu rồi, ma quỷ tiến bước thứ hai, đó là phóng đại những nhu cầu đó lên, làm cho người ta lầm tưởng rằng, đó là những nhu cầu cấp bách, phải thoả mãn ngay tức khắc.

Khi ta đã hoàn toàn mê mẩn vì cái bẫy nhu cầu, ma quỷ mới đẩy ta đến bước thứ ba, đó là tìm thoả mãn những nhu cầu theo ý riêng mình. Cách giải quyết đó ngược lại với ý muốn của Thiên Chúa. Mục đích sau cùng của ma quỷ là xúi giục ta phản loạn, không sống tâm tình người con hiếu thảo với Chúa, chống lại Chúa và sau cùng lìa xa Thiên Chúa.

Ông bà nguyên tổ đã rơi vào bẫy của ma quỷ nên đã không sống tâm tình của người con hiếu thảo, muốn lìa bỏ cha mình, muốn ngang bằng cha mình, muốn chống lại cha mình.

Chúa Giêsu, trái lại, đã sáng suốt vạch trần âm mưu của ma quỷ và kiên quyết sống tâm tình của người con hiếu thảo.

Khi ma quỷ phóng đại nhu cầu, muốn cho Chúa Giêsu tưởng rằng con người chỉ là vật chất, chỉ sống nhờ bánh vật chất, vật chất là tất cả đời sống. Chúa Giêsu đã sáng suốt chỉ cho ta thấy vật chất không phải là tất cả, bánh vật chất của trần gian là cần, nhưng bánh tinh thần của trời cao còn cần hơn.

Khi ma quỷ thúc giục Chúa Giêsu hãy thoả mãn tức khắc nhu cầu của mình, Chúa Giêsu đã biết kiên nhẫn chờ đợi. Khi ma quỷ khích Chúa Giêsu dùng quyền năng riêng của mình để thoả mãn nhu cầu, Chúa Giêsu đã từ chối. Người muốn vâng phục Đức Chúa Cha, tin tưởng phó thác vận mệnh trong tay Chúa Cha, để mặc Chúa Cha quyết định.

Tuy đã thắng trong cuộc đọ sức đầu tiên, Chúa Giêsu vẫn tiếp tục bị ma quỷ cám dỗ trong suốt cuộc đời. Cơn dỗ khi thì đến từ những người tin theo Chúa, muốn tôn Chúa làm vua để được ăn no nê bánh vật chất, khi thì đến từ những người chống đối đòi xin phép lạ từ trời xuống. Có lúc ma quỷ mượn chính những người thân tín như Phêrô để ngăn cản Chúa Giêsu thực hành ý Chúa Cha. Có lúc ma quỷ dùng cái chết ghê sợ để uy hiếp tinh thần, mong Chúa Giêsu lùi bước để tìm ý riêng mình. Chúa Giêsu đã chiến thắng mọi cơn cám dỗ vì Người luôn tìm thánh ý Chúa Cha. Dù khi phải chiến đấu trong mồ hôi pha máu, Người vẫn nói: “Lạy Cha, xin đừng theo ý Con, xin vâng theo ý Cha mà thôi”.

Ma quỷ vẫn đang tiếp tục tạo nên những cơn cám dỗ. Và nhiều khi chúng ta đã mắc bẫy ma quỷ. Ta mắc bẫy ma quỷ khi mải mê đuổi theo những nhu cầu tiêu thụ quá đáng. Ta rơi vào âm mưu ma quỷ khi ta muốn có tất cả và có tức khắc. Ta hoàn toàn nằm trong vòng tay ma quỷ khi ta dùng mọi phương tiện để thoả mãn những nhu cầu, bất chấp ý Thiên Chúa.

Thay vì tuân phục ý Chúa, tôi luôn luôn bắt Chúa làm theo ý tôi. Thay vì vâng lời Chúa, tôi luôn luôn muốn sai bảo Chúa.

Mùa Chay này, Chúa kêu gọi tôi trở về với Chúa. Muốn trở về với Chúa, tôi phải chiến đấu chống lại ma quỷ. Muốn đủ sức chống lại ma quỷ, tôi phải luyện tập bỏ ý riêng mình và tìm vâng phục ý Chúa.

Hãy đặt ra cho mình một chương trình sống Mùa Chay bằng tăng cường hy sinh, cầu nguyện, ăn chay và làm việc bác ái.

Thiên Chúa Cha, Đấng giàu lòng thương xót đang chờ đón tôi trở về, và sẽ ban sức mạnh để tôi đủ sức chống lại mọi chước cám dỗ, nếu tôi biết sống trọn tình con thảo, tin cậy phó thác vào Người.

Lạy Thiên Chúa là Cha của con, xin đón nhận tâm hồn khiêm nhường sám hối của con.

(TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt)

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2017

Sứ điệp Mùa Chay 2017 của Đức giáo hoàng Phanxicô


Sứ điệp Mùa Chay 2017 của Đức giáo hoàng Phanxicô
“Lời Chúa là một hồng ân. Tha nhân là một hồng ân”

Anh chị em thân mến,

Mùa Chay là một khởi đầu mới, một con đường dẫn đến mục tiêu chắc chắn là Phục Sinh, chiến thắng của Chúa Kitô đối với sự chết. Mùa này thúc giục chúng ta hoán cải. Người Kitô hữu được mời gọi “hết lòng” trở về với Thiên Chúa (Joel 2,12), không chấp nhận lối sống tầm thường nhưng lớn lên trong tình bạn với Chúa. Chúa Giêsu là người bạn tín trung, không bao giờ bỏ rơi chúng ta. Ngay cả khi chúng ta phạm tội, Người vẫn kiên nhẫn chờ đợi chúng ta trở về; và qua sự đợi chờ đầy nhẫn nại ấy, Người tỏ lòng sẵn sàng tha thứ cho chúng ta (x. Bài giảng, 08-01-2016).

Kết quả hình ảnh cho Mùa chay 2017

Mùa Chay là mùa thuận lợi để đi sâu vào đời sống thiêng liêng nhờ những phương tiện thánh hoá Giáo hội đã đem đến cho chúng ta: ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Nền tảng của mọi sự là lời Chúa, mà trong mùa này, chúng ta được mời gọi chuyên chăm lắng nghe và suy ngẫm. Giờ đây tôi muốn nói đến dụ ngôn ông nhà giàu và anh Lazarô (x. Lc 16,19-31). Chúng ta hãy để câu chuyện đầy ý nghĩa này gợi hứng cho chúng ta, vì nó cho chúng ta chiếc chìa khóa để hiểu chúng ta cần phải làm gì để có được hạnh phúc thật và được sống đời đời. Dụ ngôn ấy khuyên chúng ta thành tâm hoán cải.

1. Tha nhân là một hồng ân

Dụ ngôn bắt đầu bằng việc giới thiệu hai nhân vật chính. Người nghèo được mô tả chi tiết hơn: người ấy thật tồi tàn và không đủ sức để đứng lên. Nằm trước cửa nhà người giàu có, anh ăn những vụn bánh từ bàn của người ấy rơi xuống. Thân thể anh đầy lở loét và mấy con chó đến liếm những vết thương của anh (x. cc 20-21). Một bức tranh về nỗi khốn cùng; vẽ nên một con người hèn hạ và đáng thương.

Cảnh tượng ấy lại còn ấn tượng hơn nếu chúng ta để ý đến tên của người nghèo là Lazarô: một cái tên đầy hứa hẹn, có nghĩa là Chúa cứu giúp. Như thế nhân vật này không vô danh. Tính cách của anh được mô tả rõ ràng và anh xuất hiện như một cá nhân với câu chuyện của riêng mình. Mặc dù thực tế ông nhà giàu không nhìn thấy anh, nhưng chúng ta nhìn thấy và biết anh như một người quen thuộc. Anh trở thành một khuôn mặt, và do đó, một hồng ân, một kho tàng vô giá, một con người mà Thiên Chúa yêu thương và chăm sóc, mặc dù hoàn cảnh cụ thể của anh hệt như một kẻ bị ruồng bỏ (x. Bài giảng, ngày 08 Tháng 1 2016).

Lazarô dạy chúng ta rằng tha nhân là một hồng ân. Mối tương quan thích đáng với mọi người là nhìn nhận giá trị của họ với lòng biết ơn. Ngay cả người nghèo nằm ở cửa nhà người giàu chẳng phải là điều phiền toái, nhưng là lời kêu gọi hoán cải và thay đổi. Dụ ngôn trước hết mời gọi chúng ta mở cửa lòng mình cho người khác vì mỗi người là một hồng ân, dù đó là người láng giềng của chúng ta hay một người bần cùng vô danh. Mùa Chay là mùa thuận lợi để mở cửa cho tất cả những ai túng thiếu và nhận ra khuôn mặt của Chúa Kitô nơi họ. Mỗi người chúng ta đều gặp những người như thế mỗi ngày. Mỗi cuộc đời mà chúng ta gặp là một hồng ân đáng được đón nhận, tôn trọng và yêu thương. Lời Chúa giúp chúng ta mở mắt để đón nhận và yêu thương sự sống, đặc biệt khi sự sống ấy yếu đuối và dễ bị tổn thương. Nhưng để làm được điều này, chúng ta phải nghiêm túc nhìn nhận những gì Phúc Âm nói với chúng ta về người giàu có.

2. Tội làm cho chúng ta ra mù loà

Dụ ngôn cực tả những điều trái ngược về người giàu có (x. c. 19). Không như anh nghèo Lazarô, ông không có một cái tên; mà chỉ đơn giản được gọi là “một người giàu có”. Sự hào nhoáng của ông ở nơi những y phục lộng lẫy đắt tiền. Vải điều thậm chí còn quý hơn cả vàng và bạc, và do đó chỉ dành cho các vị thần (x. Gr 10,9) và vua chúa (x. Tl 8,26), còn vải lanh mịn dành cho một một nhân vật gần như thần thánh. Rõ ràng người ấy đã phô trương sự giàu có của mình, và ngày nào cũng thế: “ngày ngày yến tiệc linh đình” (c. 19). Ở nơi ông, chúng ta có thể có một thoáng nhìn bi đát về sự đồi bại của tội lỗi, diễn tiến qua ba giai đoạn kế tiếp: lòng ham mê tiền bạc, sự hư ảo và thói tự đắc (x. Bài giảng, ngày 20-09-2013).

Thánh Tông đồ Phaolô nói với chúng ta rằng “lòng ham mê tiền bạc là cội rễ sinh ra mọi điều ác” (1 Tim 6,10). Đây là nguyên nhân chính của sự đồi bại và là nguồn gốc của ghen tị, xung đột và nghi ngờ. Đồng tiền có thể đi đến thống trị chúng ta, đến mức trở thành một thần tượng độc tài (x. Evangelii Gaudium, 55). Thay vì là một công cụ giúp chúng ta làm điều thiện và bày tỏ tình liên đới với người khác, tiền bạc lại có thể trói buộc chúng ta và cả thế giới vào một thứ luận lý ích kỷ chẳng còn chỗ cho tình yêu và cản trở hoà bình.

Rồi dụ ngôn cho thấy thói tham lam của người đàn ông giàu có làm cho ông ta thành hư ảo. Tính cách của ông thể hiện qua vẻ bên ngoài, qua việc tỏ cho người khác thấy ông có thể làm được những gì. Nhưng cái vỏ bên ngoài của ông chỉ che đậy một sự trống rỗng nội tâm. Cuộc sống của ông là một tù nhân cho cái vẻ bên ngoài, cho những khía cạnh hời hợt và phù du nhất của hiện hữu (x. nt. 62).

Bậc thấp nhất của sự suy thoái đạo đức này là thói tự đắc. Người giàu có phục sức như một vị vua và hành xử như một vị thần, mà quên rằng ông chỉ là người sẽ phải chết. Đối với những kẻ bị thói ham mê của cải làm cho sa đọa, ngoài cái tôi của họ ra, chẳng có gì tồn tại. Những người xung quanh họ ở ngoài tầm mắt của họ. Hậu quả của việc gắn bó với tiền bạc là một thứ mù lòa. Người giàu có không nhìn thấy người nghèo, người đói khát, người bị thương, người nằm ở cửa nhà mình.

Nhìn vào nhân vật này, chúng ta có thể hiểu tại sao Phúc Âm quyết liệt lên án thói ham mê tiền bạc: “Không ai có thể làm tôi hai chủ: hoặc ghét chủ này và yêu chủ kia, hoặc gắn bó với chủ này và khinh chê chủ nọ. Các con không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền bạc được” (Mt 6,24).

3. Lời Chúa là một hồng ân

Đoạn Phúc Âm về người giàu có và Lazarô giúp chúng ta chuẩn bị chu đáo cho Lễ Phục sinh. Phụng vụ Thứ Tư Lễ Tro mời gọi chúng ta đến với một kinh nghiệm gần giống với kinh nghiệm của người giàu có. Khi linh mục xức tro trên đầu chúng ta, ngài lặp lại những lời này: “Hãy nhớ mình là tro bụi, và sẽ trở về bụi tro”. Quả vậy, cả người giàu và người nghèo đều chết, và phần quan trọng hơn của dụ ngôn này diễn ra ở đời sau. Hai nhân vật bỗng nhiên khám phá ra rằng “chúng ta đã chẳng mang gì vào trần gian này, thì cũng chẳng mang gì ra được” (1 Tm 6,7).

Chúng ta cũng thấy những gì xảy ra ở đời sau. Ở đó người giàu năn nỉ với Abraham mà ông gọi là “cha” (Lc 16,24,27), như một dấu chỉ cho thấy ông thuộc về dân Chúa. Chi tiết này làm cho cuộc đời của ông càng thêm mâu thuẫn, vì cho đến lúc này, chẳng có gì cho thấy ông có mối tương quan với Thiên Chúa. Thực tế, trong cuộc đời của ông không có chỗ nào dành cho Thiên Chúa. Vị thần duy nhất của ông là chính ông.

Người giàu có chỉ nhận ra Lazarô khi ông phải chịu những cực hình ở đời sau. Ông xin người nghèo lấy một giọt nước làm cho ông bớt đau đớn. Điều ông xin Lazarô cũng giống như điều ông có thể làm được nhưng đã chẳng bao giờ làm. Abraham nói với ông: “Cả đời con, con đã nhận được bao điều tốt lành, còn Lazarô chỉ nhận toàn điều bất hạnh. Bây giờ Lazarô được an ủi nơi đây, còn con thì phải chịu khốn khổ” (c. 25). Ở đời sau, một loại công bằng được phục hồi và những bất hạnh trong đời được đền bù bằng những điều tốt lành.

Dụ ngôn tiếp tục đưa ra một thông điệp cho tất cả các Kitô hữu. Người giàu xin Abraham sai Lazarô đến cảnh báo các anh em của ông còn đang sống. Nhưng Abraham trả lời: “Chúng đã có Môsê và các tiên tri, chúng hãy lắng nghe các ngài” (c. 29). Và đáp lại lời phản bác của người giàu có, Abraham nói thêm: “Nếu chúng không nghe Môsê và các tiên tri, thì dù người chết sống lại chúng cũng chẳng tin” (c. 31).

Như thế đã lộ ra vấn đề thực sự của người giàu có. Gốc rễ của mọi bất hạnh của ông là không chịu nghe lời Chúa. Kết quả là ông không còn yêu mến Thiên Chúa và càng ngày càng khinh miệt người thân cận của mình. Lời Chúa thì sống động và mạnh mẽ, có khả năng biến đổi những cõi lòng và đưa chúng trở về với Chúa. Khi chúng ta đóng cửa lòng mình trước hồng ân lời Chúa, thì rốt cuộc chúng ta cũng sẽ đóng cửa lòng mình trước hồng ân là những anh chị em của chúng ta.

Anh chị em thân mến, Mùa Chay là mùa thuận lợi để đổi mới cuộc gặp gỡ của chúng ta với Chúa Kitô, Đấng đang sống trong lời của Người, trong các bí tích và nơi người thân cận của chúng ta. Chúa là Đấng đã chiến thắng sự lừa dối của Tên Cám Dỗ trong bốn mươi ngày ở sa mạc, sẽ chỉ cho chúng ta con đường chúng ta phải đi. Nguyện xin Chúa Thánh Thần dẫn đưa chúng ta vào một cuộc hành trình thực sự của hoán cải, để chúng ta có thể tái khám phá hồng ân lời Chúa, được thanh tẩy khỏi tội lỗi đã làm cho chúng ta ra mù loà, và phục vụ Chúa Kitô hiện diện trong những anh chị em của chúng ta đang túng thiếu. Tôi khuyến khích tất cả các tín hữu cũng hãy thực hiện sự đổi mới thiêng liêng này bằng cách tham gia các Chiến dịch Mùa Chay được nhiều tổ chức Giáo hội phát động tại nhiều nơi trên thế giới, để thăng tiến nền văn hóa gặp gỡ trong gia đình nhân loại duy nhất của chúng ta. Chúng ta hãy cầu nguyện cho nhau, để nhờ tham dự vào chiến thắng của Chúa Kitô, chúng ta biết mở cửa lòng mình cho những ai yếu đuối và nghèo khổ. Như thế chúng ta mới có thể sống và làm chứng cho niềm vui Phục Sinh cách trọn vẹn.

Vatican, ngày 18 tháng 10 năm 2016

PHANXICÔ
Minh Đức chuyển ngữ


của Libreria Editrice Vaticana

THỨ TƯ LỄ TRO 2017: TIN VÀO TÌNH YÊU SỰ THA THỨ

Cách đây hơn một năm, cộng đồng mạng hết sức cảm thông và chia sẻ với một người cha đi tìm con, đó là trường hợp của anh Lương Thế Huynh. Hai vợ chồng anh có một đứa con ba tuổi, bỗng nhiên bị mất tích. Anh chị nghi đưa bé đã bị bắt cóc. Người cha tội nghiệp này đã rong ruổi khắp các tỉnh thành trên toàn quốc để tìm đứa con. Trên chiếc xe honda cũ kỹ, anh để hình con trai và những lời kêu cứu: Xin mọi người thương giúp tôi tìm lại con tôi. Anh chỉ cầu mong có ai đó có thể chỉ cho anh đứa con trai bé nhỏ. Sau gần một năm trời, gặp lại anh, người ta chỉ còn thấy một thân hình tiều tụy, phờ phạc vì mệt mỏi, thiếu ăn thiếu ngủ. Tuy nhiên, trong ánh mắt và trong lời nói, anh vẫn hy vọng một ngày nào đó, anh có thể tìm lại đứa con bé bỏng của mình.

Kết quả hình ảnh cho vợ chồng anh Lương thế huynh đi tìm con

Thiên Chúa cũng đang miệt mài đi tìm chúng ta như thế. Ngài không đành lòng ngồi đó để nhìn chúng ta là những đứa con đi lạc, bị ma quỷ, tội lỗi bắt cóc, nhưng tìm kiến và đưa chúng ta trở về với tình yêu của Ngài. Mùa Chay chính là cơ hội chúng ta có thể đụng chạm đến lòng xót thương tha thứ của Thiên Chúa, là cơ hội Thiên Chúa ban để mời gọi chúng ta trở về và cũng là thời gian Thiên Chúa tìm kiếm mỗi chúng ta.

Việc trở về cùng Thiên Chúa là cha yêu thương, không chỉ dành cho người tội lỗi, mà cho hết mọi người kể cả những người công chính tốt lành. Trở về không chỉ để nói lời xin lỗi với Thiên Chúa, nhưng trước hết là để cảm nhận được tình yêu thương của một người cha, để được sà vào vòng tay ấm áp của Cha. Vì thế, mùa Chay này là cơ hội dành cho mỗi người, để làm mới lại tương quan của mình đối với Thiên Chúa. Điều Thiên Chúa chờ đợi nơi mỗi người là thái độ thành tâm thật lòng: Hãy thật lòng trở về với Ta trong chay tịnh, khóc lóc và than van. Hãy xé lòng chứ đừng xé áo.

Động lực và sức mạnh giúp chúng ta quay lại với Chúa, không phải vì sợ hãi, sợ bị phạt, nhưng là tin vào tình yêu, sự nhân hậu của Thiên Chúa là Cha. Thiên Chúa của chúng ta không phải là một vị thần khắc nghiệt, cũng không là một quan tòa vô cảm, nhưng trước hết Ngài là một người cha chạnh lòng thương. Lời tiên tri Gioen diễn tả: Ngài từ bi nhân hậu, chậm giận và giàu tình thương, Ngài hối tiếc khi giáng họa, và tìm cách để ban ơn lành. Chính tình thương này đã thúc đẩy Thiên Chúa tìm kiếm con người để tha thứ, yêu thương và chữa lành.

Một khi thật lòng trở về với Thiên Chúa, chúng ta sẽ cảm nhận được tình thương từ nơi Ngài. Thiên Chúa sẽ không bao giờ nhớ lại quá khứ của ta, nhưng Ngài như cha hân hoan vui mừng ôm ta vào lòng, như người mục tử tìm được con chiên lạc. Thiên Chúa không chê chúng ta bẩn thỉu hôi hám vì tội lỗi, nhưng Ngài đưa chúng ta vào nhà của Ngài, cho ta chung hưởng niềm vui và hạnh phúc của Ngài. Thiên Chúa sẽ đổi mới cuộc đời chúng ta, trả lại cho chúng ta niềm vui, hân hoan và hạnh phúc trong tư cách những người con của Chúa.

Việc trở về với Thiên Chúa được thể hiện qua việc điều chỉnh lại các mối tương quan: với người khác, với Thiên Chúa và với chính mình. Bài Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho chúng ta ba mối tương quan cụ thể phải điều chỉnh và thực hành với một thái độ thành tâm thiện chí, đó là: làm việc bác ái, cầu nguyện và chay tịnh.

Kết quả hình ảnh cho thứ 4 lễ tro

Chúa Giêsu cảnh báo về thái độ làm việc bác ái. Từ xưa đến nay, nhiều tôn giáo dạy làm việc bác ái, tuy nhiên người ta làm việc bác ái với nhiều mục đích khác nhau. Có người làm việc bác ái chỉ để cho lòng thanh thản sau một quãng đời có nhiều sai lỗi, gian dối; có người muốn bù lại quá khứ mình đã gây ra đau khổ, thiệt hại cho người khác; có người làm việc bác ái chỉ đơn thuần là công tác xã hội, làm bác ái để đánh bóng tên tuổi mình. Người Công giáo được mời gọi làm việc từ thiện bác ái với một mục đích và ý nghĩa riêng. Việc bác ái chia sẻ của người Công giáo phải phát xuất từ tình yêu của Thiên Chúa ngang qua trái tim và đôi tay. Vì thế, việc bác ái Công giáo không thể nhắm đến sự phô trương, danh tiếng hay thành tích dưới bất cứ hình thức nào. Việc bác ái phải xuất phát từ chỗ nhận ra anh em là hình ảnh, là hiện thân của Thiên Chúa để mình chia sẻ, giúp đỡ anh em với lòng kính trọng. Do đó, khi làm việc bác ái, đừng khua chiêng đánh trống, huênh hoang khoe mẽ, cũng đừng ghi tên, xướng danh, hay đòi hỏi bất cứ sự đáp đền nào, nhưng khi bố thì, đừng cho tay trái biết việc tay phải làm. Thiên Chúa là Cha, Đấng thấu suốt mọi sự sẽ trả lại cho ta.

Trong tương quan với Thiên Chúa: Chúa chờ đợi mỗi người sự thành tâm thiện chí, tin tưởng và yêu mến. Khi cầu nguyện, anh em đừng giả hình như các biệt phái, đừng đứng ở ngã ba ngã tư, nhưng vào phòng đóng cửa lại và gặp gỡ cầu nguyện riêng tư thân mật với Thiên Chúa. Thiên Chúa không chấp nhận việc đến với Ngài chỉ có cái xác mà không có hồn, Ngài cũng không muốn nghe những lời cầu nguyện giả dối hình thức, nhưng Ngài muốn một sự gặp gỡ thân tình cá nhân giữa mỗi tâm hồn với Chúa. Thiên Chúa muốn chúng ta sống tương quan thân mật như cha với con, như bạn hữu với Chúa. Vào phòng đóng cửa lại, không có nghĩa là trốn tránh cuộc sống hiện tại, xa rời thực tế, nhưng là, cho dù giữa những bộn bề lo toan của cuộc sống, vẫn có những thời giờ tĩnh lặng, có một chỗ cho Thiên Chúa hiên diện trong tâm hồn, là nơi ta có thể gặp Chúa bất cứ lúc nào. 

Trong tương quan với chính mình: Thiên Chúa muốn mỗi người biết làm chủ bản thân cùng với những ham muốn. Con người chúng ta bị chi phối, lôi kéo bởi ma quỷ, dục vọng xác thịt và thế gian, nó kéo chúng ta xa rời Thiên Chúa và tôn mình làm chúa. Chúa Giêsu dạy việc giữ chay trước hết không phải là việc hành xác, không phải là việc phô trương đạo đức bên ngoài, nhưng biết làm chủ con người và những ham muốn của thể xác. Ăn chơi, hưởng thụ, sống dễ dãi buông thả là khuynh hướng tự nhiên của con người. Mùa chay là mùa Chúa muốn chúng ta, trước hết hãy giữ chay lòng, kiềm chế, làm chủ mình khỏi những ham muốn, đòi hỏi dễ dãi của bản thân. Đừng làm cho vẻ mặt rầu rĩ ủ dột bên ngoài, nhưng chỉ tỏ ra cho Thiên Chúa biết mà thôi. Thiên Chúa sẽ thấu hiểu lòng của anh em, Ngài sẽ đón nhận sự thiện chí để nâng đỡ làm cho con người chúng ta được trưởng thành, vững mạnh trong lý trí và quyết tâm.

Kết quả hình ảnh cho thứ 4 lễ tro

Qua Lời Chúa hôm nay, chúng ta càng nhận ra gương mặt và trái tim yêu thương nhân hậu của Thiên Chúa là Cha. Thiên Chúa luôn cho chúng ta có cơ hội để điều chính lại bản thân và Ngài không bao giờ thất vọng về tình trạng của mỗi chúng ta. Vì thế, tin vào tình yêu Thiên Chúa, chúng ta không được phép thất vọng về chính mình và cũng đừng bao giờ thất vọng về anh chị em. Đừng bao giờ nghĩ rằng tội tôi quá nhiều, chắc Thiên Chúa không thể tha thứ cho tôi. Nói như thế là chưa đủ lòng tin vào sự nhân từ của Chúa.

Việc lãnh nhận nhúm tro rắc trên đầu hôm nay, nhắc cho mỗi người nhớ đến thân phận cát bụi mỏng manh của mình. Chúng ta sẽ không mãi ở thế gian này, tất cả sẽ phải trở về với cát bụi; cuộc sống này sẽ qua đi, mọi sự sẽ chấm dứt, chỉ có Thiên Chúa là tồn tại mà thôi. Vì thế, đừng bám víu và đừng đặt cược cuộc đời mình ở thế gian này, nhưng hãy đặt nơi Thiên Chúa. Việc nhận nhúm tro trên đầu cũng nhắc cho ta nhớ, con người chúng ta mỏng manh yếu đuối bất toàn bất túc. Vì thế, đừng chấp nhất nhau, đừng giận hờn nhau, nhưng hãy biết thông cảm và tha thứ cho nhau, cùng giúp nhau sống tốt, sống hạnh phúc ở đời này và mai sau đạt được hạnh phúc Nước Trời.

Xin Chúa cho chúng ta biết tận dụng cơ hội mùa Chay này để làm mới lại tương quan của mình đối với Thiên Chúa, với chính mình và với anh chị em. Amen.

Lm.Giuse Đỗ Đức Trí