Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2016

Con đường hẹp!


Có câu chuyện ngụ ngôn kể rằng: Con nhái ở bên ruộng nói với con nhái ở bên vệ đường: “Anh ở đây quá nguy hiểm, dọn qua chỗ tớ mà ở.” Con nhái ở bên đường trả lời: “Tớ đã quen rồi, hơn nữa, cũng thấy ngại, làm biếng không muốn dọn nhà.” Mấy ngày sau con nhái ở bên ruộng đi thăm con nhái ở bên đường, phát hiện nó đã bị xe chạy ngang qua cán chết rồi, xác nằm bẹp dí bên đường đi. 

Vận mệnh của đời mình hoàn toàn tuỳ thuộc vào cách sống của chúng ta. Tránh xa lười biếng con nhái đã không chết oan uổng. Đời người đôi khi vì lười biếng mà lầm than. Vì lười biếng mà nghèo đói. Vì lười biếng mà cuộc sống cứ lận đận lao đao.


Kết quả hình ảnh cho con đường hẹp


Thứ Ba sau CB 12 TN C
Lời Chúa: Mt 7,6.12-14

6 "Của thánh, đừng quăng cho chó ; ngọc trai, chớ liệng cho heo, kẻo chúng giày đạp dưới chân, rồi còn quay lại cắn xé anh em.
12 "Vậy tất cả những gì anh em muốn người ta làm cho mình, thì chính anh em cũng hãy làm cho người ta, vì Luật Mô-sê và lời các ngôn sứ là thế đó.
13 "Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó.14 Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy.

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta: “con đường dễ dãi là con đường dẫn đến hư mất mà nhiều người đi lại theo nó”. Đó là quy luật chung cho cuộc sống. Sự thành đạt không đến một cách ngẫu nhiên nhưng là kết quả của những cố gắng kiên nhẫn lâu dài.

Con đường đức tin cũng phải đi vào con đường hẹp. Con đường đòi hy sinh, từ bỏ. Con đường đòi chiến đấu không ngừng chống lại những cám dỗ của danh lợi thú. Đây là con đường mà Đức Giê-su đã đi qua. Ngài cũng mời gọi chúng ta: “Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình mà vác thập giá mà theo Ta”. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Chiếc đẫy hai túi

Chuyện ngụ ngôn: "Chiếc đẫy hai túi" kể rằng:
Một hôm, thần Jupiter phán rằng: " Hỡi muôn loài, hãy đến trước tôn nhan ta: Nếu các ngươi thấy thân mình có gì không hài lòng, thì được tự do tâu trình. Ta sẵn sàng sửa lại ngay cho". Rồi Jupiter phán: "Trước hết con khỉ, ngươi hãy quan sát các vật và so sánh nhan sắc ngươi với các vật khác, ngươi có hài lòng về bộ mặt của ngươi không?"

Khỉ tâu: "Thưa tôi có gì kém vật khác đâu. Tôi rất hài lòng về diện mạo tôi! Nhưng tôi chỉ tiếc là bạn gấu, thân xác quá thô kệch, tôi nghĩ chắc không bao giờ bạn ấy dám để cho người ta vẽ chân dung bạn ấy"

Lập tức gấu ta xuất hiện, người ta ngờ là anh sẽ phàn nàn về thân xác anh. Nhưng không! Anh hết lời ca tụng thân xác này và anh chỉ phê bình về chàng voi, làm sao mà tai của chàng voi quá to, còn chiếc đuôi của chàng lại quá nhỏ: Thật là một khối thịt xấu xí, thiếu mỹ thuật"

Con voi tuy là vật rất thông minh, nhưng cũng lại chỉ phê bình vật khác. Chàng ta nói chàng không bằng lòng với chị cá voi, vì chị quá to lớn.

Con kiến thì chê con mọt nhỏ qúa. Sánh với con mọt thì kiến là một chằng khổng lồ.

Jupiter đành cho giải tán, là vì con nào cũng hài lòng về diện mạo của mình mà chỉ biết phê bình chê bai con vật khác.

Thứ Hai sau CH 12 TNC
Lời Chúa: Mt 7,1-5:

1 "Anh em đừng xét đoán, để khỏi bị Thiên Chúa xét đoán, 2 vì anh em xét đoán thế nào, thì anh em cũng sẽ bị Thiên Chúa xét đoán như vậy ; và anh em đong đấu nào, thì Thiên Chúa cũng sẽ đong đấu ấy cho anh em. 3 Sao anh thấy cái rác trong con mắt của người anh em, mà cái xà trong con mắt của mình thì lại không để ý tới ? 4 Sao anh lại nói với người anh em : "Hãy để tôi lấy cái rác ra khỏi mắt bạn", trong khi có cả một cái xà trong con mắt anh ?5 Hỡi kẻ đạo đức giả ! Lấy cái xà ra khỏi mắt anh trước đã, rồi anh sẽ thấy rõ, để lấy cái rác ra khỏi mắt người anh em.

Dụ ngôn muốn nói xu hướng con người thường thích hạ bệ người khác và đề cao cái tôi. Hạ bệ bằng cách nói xấu, vu khống, miệt thị và cảm thấy vui khi người khác bị hạ bệ. Hạ bệ để mình trổi hơn người. Hạ bệ để thoả mãn cái tôi huênh hoang của mình. Hạ bệ vì luôn cảm thấy mình tốt còn tha nhân thì bất toàn. Điều đáng nói là con người không thấy giã tâm của mình. Con người luôn cho mình đúng, mình hoàn hảo. Con người ít khi tự phê để nhìn nhận khuyết điểm của mình. Con người vẫn nói xấu, bỏ vạ lẫn nhau mà vẫn cho rằng mình có quyền hạ bệ người khác như thế. Thế nên, cuộc sống vẫn chất đầy những hiềm khích, những thù hận. 

Lời Chúa hôm nay nhắc nhở chúng ta đừng xét đoán. Xét đoàn là quyền của Thiên Chúa. Thiên Chúa còn là Đấng công bằng. Ngài sẽ đòi lại công bằng cho tha nhân. Ngài sẽ phán xét chúng ta qua những lời chúng ta nói, việc chúng ta làm. Lời Chúa cũng mời gọi chúng ta muốn có cái nhìn tốt với tha nhân cần phải lấy cái xà trong mắt mình là thành kiến, là ác ý đang làm mờ tâm hồn chúng ta. Khi chúng ta lấy cái xà ác ý trong mắt mình ra, chúng ta sẽ có cái nhìn tốt với tha nhân. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Từ Bỏ Luôn Cao Đẹp

Có một nhà hiền triết đã dạy các đệ tử mình như sau:
- Này các con, nếu trong túi của các con có ba con rắn độc chui vào, lúc đó các con ngủ có ngon không?
- Thưa thầy, chúng con ngủ không ngon.
Thầy hỏi:
- Làm sao các con ngủ mới ngon?
Các đệ tử thưa:
- Chừng nào chúng con đuổi được ba con rắn độc ra khỏi nhà, chừng đó chúng con ngủ mới ngon.
Thầy nói:
- Đúng vậy, ba con rắn độc ở trong nhà nên các con ngủ không ngon. Nhưng ba con rắn độc đó chưa độc bằng ba thứ độc tham, sân, si. Vì tham, sân, si sẽ giết chết tình người nơi các con và các con sẽ chẳng bao giờ có bình an khi nó đang ở trong các con.

CHÚA NHẬT 12 THƯỜNG NIÊN C:

Lời Chúa: Lc 9, 18-24

Việc xảy ra là khi Chúa Giêsu cầu nguyện riêng một nơi, và có các môn đệ ở với Người, thì Người hỏi các ông rằng: "Những đám dân chúng bảo Thầy là ai?" Các ông thưa rằng: "Người thì bảo là Gioan Tẩy Giả, kẻ khác lại cho là Êlia, còn người khác thì cho là một trong các tiên tri thời xưa đã sống lại". Người lại hỏi các ông rằng: "Phần các con, các con bảo Thầy là ai?"

Simon Phêrô thưa rằng: "Thầy là Đấng Kitô của Thiên Chúa". Và Người ngăn cấm các ông không được nói điều đó với ai mà rằng: "Con Người phải chịu nhiều đau khổ, bị các kỳ lão, các thượng tế, và các luật sĩ từ bỏ và giết chết, nhưng ngày thứ ba sẽ sống lại".



Người lại phán cùng mọi người rằng: "Ai muốn theo Ta, hãy từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo Ta. Vì kẻ nào muốn cứu mạng sống mình thì sẽ mất nó. Còn kẻ nào mất mạng sống mình vì Ta, thì sẽ cứu được mạng sống mình".
Từ bỏ luôn cao đẹp


Người đi theo Chúa thời nào cũng rất đông. Số đông ở đây không chỉ là những bậc tu hành mà cả những tín hữu vẫn được gọi là môn đệ Chúa. Số đông đi theo Chúa nhưng đáng tiếc họ vẫn mang cồng kềnh những tham sân si đi theo. Họ mang gánh nặng nề không chỉ của cải mà cả đam mê tật xấu. Họ đi theo Chúa nhưng vẫn ngổn ngang những lọc lừa dối gian để tìm kiếm danh vọng trần gian.

Đây cũng là lý do nhiều người nói rằng “tin đạo chứ không tin người có đạo”. Vì sự thực, vẫn còn đó người có đạo mà vẫn hãm hại lẫn nhau, vẫn cờ bạc rượu chè, vẫn “trốn Chúa lộn chồng”. Vẫn còn đó những vết nhơ bởi những tranh giành quyền lực, địa vị xảy ra trong Giáo hội và ngay cả các xứ đạo. . .
Xem ra đi theo Chúa mà thiếu từ bỏ sẽ làm mất đi vẻ đẹp của Tin mừng. Tâm hồn khó thanh thản để được bình an khi trong lòng vẫn còn khư khư giữ lấy danh lợi thú trần gian. Đôi khi vì không muốn từ bỏ sẽ làm cho con người mất niềm vui của bình an tâm hồn và biến mình trở nên ích kỷ tầm thường.

Con rắn độc trong con người chúng ta chính là những tham sân si. Tức là lòng tham, sự nóng giận, tính mệ muội. Nếu chúng ta không chế ngự 3 con rắn độc này nó sẽ cắn lương tâm chúng ta và làm hại những người xung quanh.

Hôm nay Chúa mời gọi những ai là môn đệ của Chúa cần phải biết sống buông bỏ những tham sân si ấy. Đừng mang nó trong mình kẻo nó làm cản trở đôi chân truyền giáo của chúng ta. Hãy để Chúa làm chủ tâm hồn mình chứ đừng để những danh lợi thú làm mờ lương tri. Hãy từ bỏ để tâm hồn được thanh thoát. Từ bỏ những tham lam vô độ. Từ bỏ những đam mê bất chính. Nhờ từ bỏ mà ta nên chứng nhân của Tin mừng. Một chứng tá không chỉ bằng lời mà bằng chính đời sống thanh thoát khỏi những bon chen vật chất, những đam mê tội lỗi. Một chứng tá hùng hồn khi biết hy sinh vác thập giá của bổn phận hằng ngày một cách trung tín theo Chúa.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn can đảm bước theo Chúa cho dẫu có thiệt thòi đời này nhưng sẽ được trọng thưởng triều thiên vinh quang mai sau trên quê trời. Amen

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền

Thứ Sáu, 10 tháng 6, 2016

Hãy cảm thông cho nhau

Một đêm cúp điện, trời tối. Người chồng đem chiếc đèn dầu ra để thắp sáng. Chiếc đèn đã quá cũ. Bóng đèn bám đầy khói. Tim đèn không còn nhạy. Người chồng bực bội quăng chiếc đèn dầu vào xó, và tìm một cây nến thay thế.

Tuần sau lại cúp điện. Người vợ châm lửa vào một chiếc đèn dầu xinh đẹp. Ánh sáng tỏa ra rất ấm cúng.

Người chồng ngạc nhiên hỏi vợ : "Em mới mua chiếc đèn này hả ? Bao nhiêu tiền ?" Người vợ cười đáp : "Chẳng tốn bao nhiêu cả, vì đó là chiếc đèn cũ. Chỉ tốn thời giờ thôi. Em đã lau chùi bóng đèn, vuốt lại tim đèn. Thế là nó có thể xử dụng tốt lại như trước".

Quẳng đi món một đồ hư thì dễ hơn sửa nó lại nhiều. Đối với con người cũng thế. Dán lên con người lầm lỗi một nhãn hiệu rồi quẳng vào tù thì dễ. Nhưng làm thân với họ, tìm hiểu họ, rồi giúp họ thay đổi là một việc khó hơn.

Kết quả hình ảnh cho CHIẾC ĐỀN DẦU XINH ĐẸP

Nơi một xóm đạo có một anh thanh niên mới ra tù, những đứa trẻ trong xóm thường len lén nhìn anh với ánh mắt sợ hãi. Người lớn thường bảo nhau: Cẩn thận, ngày xưa nó chém người đấy! Trong tâm trí những đứa trẻ non nớt ấy thì người thanh niên ấy thực sự rất đáng sợ. Lớn lên, mọi người tưởng chừng như đã quên vết nhơ trong quá khứ nhưng chỉ cần trong xóm mất đồ hay bọn trẻ đánh nhau, tên anh ta lại được xướng lên với những tiếng chậc lưỡi đầy rẻ rúng: “Đấy đấy, lại học theo cái bọn trộm cắp, giết người!”

Thời gian, vạn vật luôn thay đổi. Con người cũng luôn luôn đổi thay. Có thể hôm nay họ lầm lỗi nhưng ngày mai họ đã sửa đổi. Có thể quá khứ của họ chẳng ra gì, nhưng hiện tại họ đang cống hiến cho cộng đồng. Thế nên, hãy để họ được sống và cố gắng sống thật tốt, đừng bao giờ tước đi cơ hội được làm một con người có ích với đời chỉ vì những định kiến và lời phê bình thiếu tình yêu của chúng ta.

Lc 7, 36-50 hoặc 7, 36 - 8, 3:

Khi ấy, có một người biệt phái kia mời Chúa Giêsu đến dùng bữa với mình; Người vào nhà người biệt phái và vào bàn ăn. Chợt có một người đàn bà tội lỗi trong thành, nghe biết Người đang dùng bữa trong nhà người biệt phái, liền mang đến một bình bạch ngọc đựng thuốc thơm. Bấy giờ bà đứng phía chân Người khóc nức nở, nước mắt ướt đẫm chân Người, bà lấy tóc lau, rồi hôn chân và xức thuốc thơm. Thấy thế, người biệt phái đã mời Người nghĩ thầm rằng: "Nếu ông này là tiên tri thì phải biết người đàn bà đang động đến mình là ai và thuộc hạng người nào: là một người tội lỗi". Nhưng Chúa Giêsu lên tiếng bảo ông rằng: "Hỡi Simon, Tôi có điều muốn nói với ông". Simon thưa: "Xin Thầy cứ nói".

- "Một người chủ nợ có hai con nợ, một người nợ năm trăm đồng, người kia nợ năm mươi. Vì cả hai không có gì trả, nên chủ nợ tha cho cả hai. Vậy trong hai người đó, người nào sẽ yêu chủ nợ nhiều hơn?" Simon đáp: "Tôi nghĩ là kẻ đã được tha nhiều hơn". Chúa Giêsu bảo ông: "Ông đã xét đoán đúng". Và quay lại phía người đàn bà, Người bảo Simon: "Ông thấy người đàn bà này chứ? Tôi đã vào nhà ông, ông đã không đổ nước rửa chân Tôi; còn bà này đã lấy nước mắt rửa chân Tôi, rồi lấy tóc mình mà lau. Ông đã không hôn chào Tôi, còn bà này từ lúc vào không ngớt hôn chân Tôi. Ông đã không xức dầu trên đầu Tôi, còn bà này đã lấy thuốc thơm xức chân Tôi. Vì vậy, Tôi bảo ông, tội bà rất nhiều mà đã được tha rồi, vì bà đã yêu mến nhiều. Kẻ được tha ít, thì yêu mến ít".

Rồi Người bảo người đàn bà: "Tội con đã được tha rồi". Những người đồng bàn liền nghĩ trong lòng rằng: "Ông này là ai mà lại tha tội được?" Và Người nói với người đàn bà: "Đức tin con đã cứu con, con hãy về bình an".

Sau đó Người rảo qua các thành thị và xóm làng, giảng dạy và loan báo Nước Thiên Chúa. Có nhóm Mười Hai cùng đi với Người, cũng có cả mấy người phụ nữ đã được chữa khỏi tà thần và bệnh tật: Maria gọi là Mađalêna, đã được chữa khỏi bảy quỷ ám, Gioanna vợ của Cusa viên quản lý của Hêrôđê, Susanna và nhiều bà khác: họ đã lấy của cải mình mà giúp Người. 


Người xưa từng nói: “Đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”. Hãy rộng lượng với tha nhân. Hãy nâng đỡ và cảm thông với những yếu đuối của họ. Tuy không đồng lòng với lỗi lầm của họ nhưng không đoạn tuyệt với họ, mà biết tạo cơ hội để họ canh tân cuộc đời.

Người phụ nữ tội lỗi trong Tin Mừng lòng tràn ngập niềm vui và bình an. Tội của chị rất nặng. Lỗi lầm của chị rất nhiều. Thế nhưng, Chúa đã không nhìn quá khứ của chị để kết án. Chúa nhìn hiện tại để cảm thông, để nâng đỡ, để cho chị cơ hội bày tỏ lòng ăn năn. Chị được đến gần Chúa. Chị được bày tỏ lòng tôn kính Chúa. Chị hôn chân Chúa và xức dầu thơm cho Chúa. Một cử chỉ biểu lộ lòng làm tôn kính Thầy Giêsu. Một cử chỉ của lòng biết ơn với Thầy Giêsu vì đã tạo cho chị cơ hội sửa đổi và canh tân.

Nếu giả dụ như chúng ta là người đã từng có những lỗi lầm chúng ta sẽ cần điều gì nơi tha nhân? Có phải là định kiến không bao giờ thay đổi về ta? Có phải là sự xét đoán hà khắc? Có phải là xa lánh, thiếu cảm thông? Và nếu giả dụ như cha mẹ hay anh chị em của mình phạm phải sai lầm thì chúng ta sẽ hành động ra sao? Liệu chúng ta có muốn người khác ghi nhớ mãi lỗi lầm của họ, hay chúng ta muốn họ được phán xét một cách công bằng và cho họ một cơ hội được làm lại từ đầu? Nếu vậy, tại sao chúng ta lại không có cái nhìn yêu thương, cảm thông với những yếu đuối của tha nhân?

Cuộc đời quanh ta cũng có biết bao phận người đang cô đơn thất vọng. Họ cô đơn vì cộng đoàn thiếu cảm thông. Họ thất vọng vì cộng đoàn không chỉ bỏ rơi mà còn kết án vì những lỗi lầm của quá khứ. Dẫu biết rằng, con người luôn có lầm lỗi. Con người luôn cần sự cảm thông tha thứ của tha nhân, nhưng chính con người lại thường hà khắc và kết án lẫn nhau. Chúng ta thường có cái nhìn quá khắc khe như những người biệt phái năm xưa. Họ chỉ thấy quá khứ tội lỗi. Họ thiếu cái nhìn yêu thương để có thể nâng đỡ và giúp người tội lổi chuộc lại lỗi lầm. Một thế giới thiếu tình yêu, thiếu cảm thông sẽ hoang tàn để thù hận lên ngôi.

Ước gì mỗi người chúng ta hãy biết khiêm tốn nhìn nhận sự bất toàn của mình để sám hối ăn năn, và nhất là để cảm thông với những yếu đuối của anh em. Xin đừng vì tự cao tự đại mà thiếu khoan dung với tha nhân. Xin cho chúng ta biết học nơi Chúa luôn nhẫn nại yêu thương để nâng đỡ anh em. Amen.

Lm Giuse Tạ Duy Tuyền

Người con có biệt tài khuyên nhủ hay an ủi!

THỨ BẢY TRONG TUẦN 10 THƯỜNG NIÊN C
THANH BARNABA TÔNG ĐỒ


Lời Chúa: Mt 10, 7-13:

Khi ấy, Chúa Giêsu phán cùng các Tông đồ rằng: “Các con hãy đi rao giảng rằng: Nước Trời đã gần đến. Hãy chữa những bệnh nhân, hãy làm cho kẻ chết sống lại, hãy làm cho những kẻ phong cùi được sạch và hãy trừ quỷ: Các con đã lãnh nhận nhưng không thì hãy cho nhưng không.

“Các con chớ mang vàng, bạc, tiền nong trong đai lưng, chớ mang bị đi đường, chớ đem theo hai áo choàng, chớ mang giày dép và gậy gộc: vì thợ thì đáng được nuôi ăn. Khi các con vào thành hay làng nào, hãy hỏi ở nơi đó ai là người xứng đáng, thì ở lại đó cho tới lúc ra đi.

“Khi vào nhà nào, các con hãy chào rằng: “Bình an cho nhà này”. Nếu nhà ấy xứng đáng thì sự bình an của các con sẽ đến với nhà ấy; còn nếu nhà ấy không xứng đáng, thì sự bình an của các con sẽ trở về với các con”.

NGÀY 11 THÁNG 6: THÁNH BARNABA, TÔNG ĐỒ



Hôm nay Giáo Hội kính nhớ thánh Barnaba tông đồ. Là một người Do Thái sinh trưởng tại đảo Sýp vào khởi đầu của đạo Kitô, Barnaba có tên là Giuse, thuộc dòng tộc Lêvi. Có lẽ thánh nhân từng sống tại Giêrusalem trước khi Chúa Giêsu chịu tử nạn. Vì nhiệt tình và sự thành công trong công tác rao giảng, cho nên thánh nhân được các thánh tông đồ tặng cho biệt hiệu là Barnaba, nghĩa là “người con có biệt tài khuyên nhủ hay an ủi”.

Sau khi trở lại, thánh Phaolô đến Giêrusalem, nhưng cộng đoàn tín hữu tại đây vẫn còn ngờ vực thiện chí của ngài.

Chính thánh Barnaba là người đứng ra bảo đảm và giới thiệu thánh Phaolô với các tông đồ, nhưng sau đó thánh Phaolô lui về ẩn dật trong nhà ngài tại Tácxô trong nhiều năm và Barnaba vẫn ở lại Giêrusalem. Sau này các thánh tông đồ sai Barnaba đến Antiokia để điều tra về sự thành công của thánh Phaolô trong công tác rao giảng Tin Mừng cho dân ngoại, Barnaba đã nhận ra ngay ơn Chúa trong công việc của thánh Phaolô. Ðây là lý do để nối kết hai người lại với nhau trong cánh đồng truyền giáo của dân ngoại. Cả hai sát cánh bên nhau tại Antiokia trong vòng một năm. Một trận đói lớn đã tàn phá Giêrusalem, Barnaba và Phaolô đã quyên góp để mang về Giêrusalem cứu trợ. Sau công tác này, cả hai trở về Antiokia và mang theo một người bà con họ hàng với Barnaba là Marcô, vị thánh sử tương lai.

Từ Antiokia, cùng với Marcô, Barnaba và Phaolô lên đường đi đến đảo Sýp, quê hương của Barnaba và từ đó sang Tiểu Á. Tại một trạm đầu tiên ở Tiểu Á, Marcô đã chia tay với Barnaba và Phaolô. Barnaba và Phaolô bắt đầu những trạm truyền giáo cam go nhất. Mỗi một bước đi là mỗi một lần bị chống đối và bách hại từ phía những người Do Thái. Những người này cũng xúi giục dân ngoại chống lại các vị tông đồ.

Tại Líttra, sau khi thánh Phaolô chữa lành một người tàn tật, dân thành xem các ngài như những vị thần. Họ định giết bò để tế cho các ngài nhưng liền sau đó bị người Do Thái xúi giục họ lại quay ra tấn công hai ngài. Riêng thánh Phaolô bị gây thương tích. Dù bị chống đối và bách hại, hai vị tông đồ vẫn hoán cải được nhiều người cũng như tổ chức được giáo đoàn. Bị người Do Thái và dân ngoại chống đối và bách hại, Barnaba và Phaolô còn gặp khó khăn ngay cả từ phía cộng đoàn Giêrusalem. Vấn đề xoay quanh việc có nên cắt bì cho dân ngoại không. Hai vị thánh này đã tranh đấu và cuối cùng đã tìm được giải pháp trong cộng đoàn Giêrusalem.

Về sau, trong chuyến đi trở lại để viếng thăm các cộng đoàn, Barnaba và Phaolô đã chia tay nhau mỗi người một ngả. Barnaba đi với Marcô đến Sýp; Thánh Phaolô cùng với một người môn đệ tên là Xila trở lại Tiểu Á. Những năm tháng còn lại của Barnaba không còn được nhắc đến nữa. Nhưng cũng như thánh Phaolô, thánh Barnaba vừa rao giảng Tin Mừng vừa tự lực cánh sinh. Khi thánh Phaolô bị giam tại Rôma, Marcô đã trở thành môn đệ của ngài. Ðiều này cho thấy rằng Barnaba không còn nữa.

Theo truyền thuyết, thánh Barnaba là vị giám mục đầu tiên của thành Milanô. Dù thế nào đi nữa, tất cả mọi truyền thuyết đều gặp nhau trong cùng một điểm là xem Barnaba như con người được mến chuộng nhất trong thế hệ Kitô đầu tiên. Trong sách Tông Ðồ Công Vụ, thánh sử Luca gọi ngài là một con người tốt, đầy tràn Chúa Thánh Thần. Thái độ của ngài đối với thánh Marcô chứng tỏ một trái tim nhân hậu và đại lượng.

(Trích trong ‘Mỗi Ngày Một Tin Vui’)

Chủ Nhật, 5 tháng 6, 2016

PHÚC THAY!

Có lẽ người Công giáo nào cũng thuộc nằm lòng Tám Mối Phúc Thật, và có lẽ nhiều người ngoài Kitô giáo cũng đã ít hay nhiều nghe nói đến bản Hiến Chương này. Cũng giống như bản thân Chúa Giêsu, Tám Mối Phúc Thật là dấu chỉ của sự mâu thuẫn. Nếu đối với người Công giáo và nhiều bậc vĩ nhân của nhân loại, Tám Mối Phúc Thật là nguồn cảm hứng cho cuộc sống cao thượng; thì đối với một số người khác, như triết gia Nietzsch chẳng hạn, Tám Mối Phúc Thật chỉ là một lô những đức tính của loài vật, bởi vì chỉ có loài vật mới cúi đầu khuất phục và nhẫn nhục chịu đựng; đối với một số khác nữa, Tám Mối Phúc Thật chỉ là những lời hứa hão về một thứ thiên đàng ảo tưởng, hay nói theo ngôn ngữ của Karl Marx, đó chỉ là thuốc phiện ru ngủ quần chúng. Vậy đâu là tinh thần đích thực của Tám Mối Phúc Thật?

Thứ Hai tuần 10 thường niên 
Lời Chúa: Mt. 5, 1-12:

Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ đông đảo, Người đi lên núi, và lúc Người ngồi xuống, các môn đệ đến gần Người. Bấy giờ Người mở miệng dạy họ rằng: "Phúc cho những ai có tinh thần nghèo khó, vì Nước Trời là của họ. - Phúc cho những ai hiền lành, vì họ sẽ được Ðất Nước làm cơ nghiệp. - Phúc cho những ai đau buồn, vì họ sẽ được ủi an. - Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thoả. - Phúc cho những ai hay thương xót người, vì họ sẽ được xót thương. - Phúc cho những ai có lòng trong sạch, vì họ sẽ được nhìn xem Thiên Chúa. - Phúc cho những ai ăn ở thuận hoà, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa. - Phúc cho những ai bị bách hại vì lẽ công chính, vì Nước Trời là của họ". 

"Phúc cho các con khi người ta ghen ghét, bách hại các con, và bởi ghét Thầy, họ vu khống cho các con mọi điều gian ác. Các con hãy vui mừng hân hoan, vì phần thưởng của các con sẽ trọng đại ở trên trời. Người ta cũng đã từng bắt bớ các tiên tri trước các con như vậy". 

THỨ HAI TUẦN 10 THƯỜNG NIÊN

Chúa Giêsu đến trần gian để mang ơn cứu độ và hạnh phúc cho muôn người. Nhưng hạnh phúc đích thực mà Ngài mang đến lại không theo cách suy nghĩ của con người, mà có khi còn đi ngược hẳn nữa là khác. 

Bài Tin Mừng hôm nay đã cho chúng ta thấy rõ những mối phúc đích thực mà Chúa Giêsu chuyển trao cho chúng ta bằng tất cả tình yêu thương của Ngài. 

Khi con người mải mê tìm kiếm nhiều của cải để hy vọng được cái hạnh phúc tạm bợ mau qua, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó” (c.3). 

Khi con người ưa thích quyền cao chức trọng để được cái hạnh phúc trong chốc lát, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai hiền lành” (c.4). 

Khi con người chỉ biết né tránh đau khổ, để tìm cái hạnh phúc hời hợt trong sung sướng, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai sầu khổ” (c.5). 

Khi con người chỉ khát khao những sự vật đời này, để tìm cái hạnh phúc mau qua như gió thoảng, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai khát khao nên người công chính” (c.6). 

Khi con người chỉ biết sống ích kỷ, để tìm cái hạnh phúc ngắn ngủi cho riêng mình, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai biết xót thương người” (c.7). 

Khi con người chỉ biết thỏa mãn những đam mê, để tìm cái hạnh phúc bất chính, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai có tâm hồn trong sạch” (c. 8). 

Khi con người chỉ biết gây chia rẽ bất hòa, để tìm cái hạnh phúc vô vị, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai xây dựng hòa bình” (c.9). 

Khi con người chỉ biết làm điều ác hại cho người khác, để tìm cái hạnh phúc vô nghĩa, thì Chúa dạy: “Phúc cho ai bị bách hại vì sống công chính” (c.10). 

Người môn đệ Chúa thường bị bách hại dưới nhiều hình thức khác nhau: “sỉ vả, bách hại, vu khống”. Nhưng tất cả những điều ấy không làm người môn đệ mất đi niềm hy vọng hướng về Quê Trời, nơi họ sẽ được ân thưởng bội hậu và chung hưởng hạnh phúc viên mãn cùng Thiên Chúa Ba Ngôi. 

Chúng ta cùng bình tâm để nhìn lại bản thân mình, lúc này ta đang dong duổi tìm kiếm hạnh phúc theo kiểu thế gian, hay đang tha thiết xây dựng các mối phúc mà Chúa Giêsu gởi trao cho mỗi người? 

Hạnh phúc đích thực chỉ có được khi ta sẵn lòng để sống nghèo khó, sống hiền lành và biết xót thương người thân cận. Hạnh phúc ấy cũng chỉ có được khi ta biết đón nhận những nỗi sầu khổ, với một tâm hồn trong sạch và khát khao sự công chính. Hạnh phúc ấy sẽ nên trọn vẹn khi chính bản thân ta biết góp phần xây dựng hòa bình và can đảm chịu đựng những bách hại trong niềm tín thác vào tình yêu quan phòng của Chúa. 

Lời Chúa vẫn luôn mời gọi và thức tỉnh chúng ta, hãy biết dừng lại trước những mời mọc vô nghĩa của thế gian, để say mê tìm kiếm hạnh phúc đích thực trong thánh ý nhiệm mầu của Thiên Chúa Tình Yêu. 

Lạy Chúa Giêsu, 
Suốt hành trình dương thế này, con vẫn mải miết đi tìm hạnh phúc. 
Nhưng sao con thấy xa vời quá Chúa ơi! 
Vì trước mắt con chỉ toàn là những gì xem ra như bất hạnh. 
Nào là nghèo đói, chiến tranh, loạn lạc; 
Nào là khổ đau, xâu xé, tranh dành; 
Nào là bất hòa, bất công, ích kỷ . . . 
Và còn nhiều lắm lắm . . . 
Nhưng hôm nay con đã hiểu ra rồi. 
Chúa vẫn bên con và tuôn tràn hạnh phúc cho con. 
Dẫu cuộc đời còn lắm trái ngang và bất hạnh. 
Nhưng với Ngài, đời con luôn nở hoa hạnh phúc. 
Hạnh phúc theo lời dạy và lối sống của Chúa. 
Hạnh phúc trong cung lòng yêu thương của Chúa. 
Xin cho con thấm đậm lời chúc phúc của Chúa. 
Để con nhiệt tâm sống tròn đầy tám mối phúc. 
Mong ngày mai con cùng Ngài gắn bó. 
Mãi muôn đời trong hạnh phúc Quê Trời. Amen.

Thiên Thảo SJP

Thứ Bảy, 4 tháng 6, 2016

THƯƠNG CẢM!!!


Walter Payton là một trong những cầu thủ nổi tiếng của đội dã cầu Chicago Bears. Ở Chicago, ông thường được gọi là “Sweetness” và cũng là một trong những cầu thủ giỏi nhất chơi cho đội Bears. Về phương diện cá tính cũng như nghề nghiệp, ông xứng đáng với cái tên “Sweetness”. Ông mất sớm, và sau khi từ trần không lâu, một bà trước đây ở Chicago gửi một lá thư cho tờ Dallas Morning News. Bà kể khi tham dự một cuộc triển lãm xe hơi ở Chicago, ông Walter Payton đang đứng trên một cái bục, ký tên lưu niệm. Một bé trai, khoảng 12 tuổi, đưa cho người giúp việc một trái banh dã cầu mà em đã đem theo từ nhà để được ông Payton ký tên vào đó. Ông Payton ký tên, ném trái banh xuống cho bé trai này, và tiếp tục ký tên lưu niệm. Ông không thấy một thiếu niên cao lớn khác đã chụp lấy trái banh này và lẻn ra khỏi đám đông. Em bé trai ôm mặt khóc. Một phụ nữ đứng cạnh đó đã len qua đám đông để lưu ý người giúp việc về sự kiện xảy ra. Ông này đã nói lại cho ông Payton biết về sự việc và ông Payton đã gọi em bé trai đến. Ông hỏi tên và địa chỉ của em và cho biết ông sẽ gửi cho em một trái dã cầu có chữ ký của ông. Người phụ nữ viết thư cho tờ báo đó nói: "Tôi chưa bao giờ được thấy nước mắt trở thành một nụ cười tươi rói sau khi em bắt tay ông Payton." Bà kết luận: "Tôi tin rằng ông Payton không chỉ là “Mr. Sweetness” ở ngoài sân banh, nhưng còn trong mọi khía cạnh của cuộc đời ngắn ngủi của ông." (Lorraine Rukavina, Carrollton, Texas)

Trong một cách nào đó, tôi nghĩ rằng câu chuyện này cho chúng ta một cái nhìn về loại người của ông Walter Payton hơn là tất cả những thành tích thể thao của ông. Nó cho thấy ông là một người có tâm tình và lòng thương cảm. Nó cho thấy ông là một người có thể đặt mình vào hoàn cảnh của người khác. Nó cho thấy ông là một người không chỉ thông cảm được sự đau khổ của người khác nhưng còn sẵn sàng thi hành điều gì đó cho sự đau khổ đó. Nói tóm, nó cho thấy ông là loại người mà Đức Giêsu đã là và đã từng dạy dỗ các môn đệ: một con người biết thương cảm.

Việc phục hồi sự sống cho người con trai duy nhất của bà goá nghèo trong Phúc Âm chỉ là một trong nhiều thí dụ về sự thương cảm đầy dẫy trong cuộc đời của Đức Giêsu. Đó là một trong những nghĩa cử thúc giục Đức Giêsu đến với người khác và chữa lành cho họ. Về điểm này, Donald Senior, một học giả Kinh Thánh, viết: "Các Phúc Âm cho thấy rõ ràng rằng sự thương cảm là một động lực đằng sau công việc chữa lành của Đức Giêsu. Sự thương cảm đã thúc giục Đức Giêsu chạm đến người cùi và chữa họ lành (x. Mc 1,15-21). Sự thương cảm với cái đói của đám đông đã khiến Người nuôi họ ăn (x. Mt 14,14). Sự thương cảm… khiến Người chiêu mộ các môn đệ để thi hành cùng một sứ vụ này (x. Mt 9,36). Và sự thương cảm bà goá thành Nain đã đưa Đức Giêsu đến việc phục hồi sự sống con trai của bà (x. Lc 7,13).

Điều đó đưa chúng ta đến một điểm quan trọng về các phép lạ chữa lành của Đức Giêsu. Sự chữa lành người mù, sự chữa lành người điếc, sự phục hồi sự sống cho con trai bà goá - đây không chỉ là các dấu hiệu về lòng thương cảm của Đức Giêsu nhưng còn là dấu chỉ của một số điều khác nữa.

Đôi mắt sáng của người mù rồi cũng sẽ mờ dần với tuổi tác. Thính giác rõ ràng của người điếc cũng sẽ mờ dần. Và con trai bà goá sau cùng cũng sẽ chết khi đến tuổi già. Vậy, điều gì quan trọng hơn và bền vững hơn? Đó là các dấu chỉ cho người ta biết Đức Giêsu là ai và Người đến thế gian để làm gì. Đó là các dấu chỉ, đã được báo trước bởi các ngôn sứ, đó là Đức Giêsu là Đấng Mêsia được mong đợi từ lâu. Đó là các dấu chỉ rằng Đức Giêsu đang khai mở Vương Quốc Thiên Chúa mà đã được mong đợi từ lâu. Việc chữa lành người mù là một dấu chỉ cho dân chúng thời Đức Giêsu thấy được ánh sáng của một ngày mới. Việc chữa lành người điếc là một dấu chỉ để họ mở tai lắng nghe những gì Đức Giêsu nói. Việc phục hồi sự sống cho con trai bà goá là một dấu chỉ là họ phải tái sinh và bắt đầu một cuộc đời mới trong Vương Quốc Thiên Chúa.

Các phép lạ của Đức Giêsu là “tiếng báo động” trong lịch sử, nó làm chói tai những người thờ ơ lãnh đạm. Đó là các dấu chỉ của sự ngự đến của Vương Quốc Thiên Chúa. Và Vương Quốc này là gì? Đó là một trật tự mới, trong đó tình thương sẽ thay thế hận thù, sự lưu tâm sẽ thay thế sự vô tâm, ánh sáng sẽ thay thế tối tăm và sự sống sẽ thay thế sự chết.

Người đàn ông vô gia cư, người phụ nữ khát nước, trẻ em trần truồng, các tù nhân - giờ đây những người này sẽ tìm thấy một người bạn và người giúp đỡ, mà trước đây họ chỉ thấy người xa lạ, đi ngang qua họ như con tầu trong đêm tối. Trật tự mới này sẽ tiếp tục. Người Kitô chúng ta được kêu gọi để tiếp tục các phép lạ của Chúa Giêsu, và trở nên các dấu chỉ hy vọng, cùng nhau hoạt động để biến đổi thế giới chúng ta với tình thương và sự lưu tâm. Trong phương cách cá biệt của chính chúng ta, chúng ta sẽ là người biết thương cảm, hàng ngày thi hành loại công việc mà ông Payton đã thi hành trong câu chuyện ở trên.

Trong những lời được cho là của Thánh Têrêsa Avila: Đức Kitô giờ đây không có thân xác, nhưng có thân xác của chúng ta, không có đôi tay nhưng có đôi tay của chúng ta, không có chân nhưng có đôi chân của chúng ta. Đôi mắt của chúng ta là đôi mắt mà qua đó lòng thương cảm của Đức Kitô nhìn đến thế giới. Đôi chân của chúng ta là đôi chân mà trên đó Người bước đi để thi hành các việc tốt lành. Đôi tay của chúng ta là đôi tay mà qua đó Người tiếp tục thi hành các phép lạ trong thế giới chúng ta.

(Lm. Mark Link)